Recent Posts

IELTS – 11

-Theo Cambridge 11/ Test 1/ Passage 1-

Trồng trọt bên trong những tòa nhà cao tầng

 

Đến năm 2050, gần 80% dân số Trái đất sẽ sống ở các trung tâm đô thị. Áp dụng những ước tính thận trọng nhất cho xu hướng nhân khẩu học hiện tại, dân số loài người sẽ tăng khoảng ba tỷ người vào lúc đó. Ước tính sẽ cần khoảng 109 ha đất mới (lớn hơn Brazil khoảng 20%) để trồng đủ lương thực cho mọi người, nếu phương pháp canh tác truyền thống vẫn tiếp tục như hiện nay. Hiện nay, trên toàn thế giới, hơn 80% diện tích đất thích hợp để trồng trọt đang được sử dụng. Trong lịch sử, khoảng 15% trong số đó đã bị lãng phí do công tác quản lý kém. Có thể làm gì để đảm bảo đủ lương thực nuôi sống toàn dân số thế giới?

Khái niệm canh tác trong nhà (indoor farming) không phải là mới, vì sản xuất cà chua trong nhà kiếng (hothouse production of tomatoes) và các sản phẩm khác đã thịnh hành (in vogue) trong một thời gian. Điều mới là nhu cầu cấp thiết để mở rộng quy mô của công nghệ này (scale up this technology) để đáp ứng lương thực cho ba tỷ người khác.  Nhiều người tin rằng cần phải có một cách tiếp cận hoàn toàn mới đối với canh tác trong nhà, sử dụng các công nghệ tiên tiến (employing cutting-edge technologies). Một trong những đề xuất như vậy là dành cho ‘Trang trại thẳng đứng’ (‘Vertical Farm’). Khái niệm này là cây lương thực được trồng trong điều kiện môi trường được kiểm soát ngay bên trong các tòa nhà nhiều tầng (multi-storey buildings).

Khái niệm này là cây lương thực được trồng trong điều kiện môi trường được kiểm soát ngay bên trong các tòa nhà nhiều tầng (multi-storey buildings). Nằm ở trung tâm của các trung tâm đô thị, ý tưởng này sẽ giảm đáng (drastically reduce) kể lượng phương tiện di chuyển cần thiết để đưa thực phẩm đến tay người tiêu dùng. Các trang trại thẳng đứng cần phải hiệu quả, xây dựng rẻ và vận hành an toàn (safe to operate). Nếu được thực hiện thành công, những người đề xuất tuyên bố, các trang trại thẳng đứng hứa hẹn đổi mới đô thị, sản xuất bền vững nguồn cung cấp thực phẩm đa dạng và an toàn (thông qua sản xuất quanh năm tất cả các loại cây trồng) và cuối cùng là sửa chữa các hệ sinh thái đã bị cúng tế cho canh tác dàn trải (sacrificed for horizontal farming).

Con người đã mất 10.000 năm để học cách trồng hầu hết các loại cây trồng mà chúng ta coi là điều hiển nhiên (we now take for granted). Trong suốt thời gian học cách trồng (Along the way), chúng ta đã bỏ hoang phần lớn diện tích đất mà chúng ta đã canh tác xong, thường biến những khu sinh thái thiên nhiên xanh tươi (verdant, natural ecozones) thành những sa mạc nửa khô cằn (semi-arid deserts). Trong cùng khoảng thời gian đó, chúng ta đã phát triển thành một lối sống thành thị, 60% dân số hiện đang sống trong các tòa nhà thẳng đứng cao tầng ở các thành phố. Điều này có nghĩa là, đối với phần lớn con người chúng ta có nơi trú ẩn khỏi các yếu tố thiên nhiên, tuy nhiên chúng ta lại để (subject) các cây lương thực (food-bearing plants) của mình chịu sự khắc nghiệt (rigours) của môi trường ngoài trời và không thể làm gì hơn ngoài việc hy vọng vào một năm thời tiết tốt. Tuy nhiên,bởi sự thay đổi khí hậu quá nhanh chóng mà điều đó càng ngày càng khó theo mong muốn của chúng ta. Những trận lũ lụt lớn, những đợt hạn hán kéo dài, những cơn bão hay những đợt gió mùa khắc nghiệt (severe monsoons) gây thiệt hại (toll) hàng năm, phá hủy hàng triệu tấn nông sản có giá trị.

Những người ủng hộ canh tác theo chiều dọc khẳng định nhiều lợi thế tiềm năng cho hệ thống. Ví dụ, cây trồng sẽ được sản xuất quanh năm, vì chúng sẽ được giữ trong các điều kiện phát triển tối ưu, được kiểm soát nhân tạo. Sẽ không có mùa màng thất bát (no weather-related crop) do (failures due to) thời tiết: hạn hán, lũ lụt hoặc sâu bệnh. Tất cả thực phẩm có thể được trồng theo phương pháp hữu cơ, loại bỏ (eliminating) nhu cầu sử dụng thuốc diệt cỏ (herbicides), thuốc trừ sâu và phân bón. Hệ thống này sẽ giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc nhiều căn bệnh truyền nhiễm từ nông nghiệp. Mặc dù hệ thống sẽ tiêu tốn năng lượng, nhưng nó sẽ trả lại năng lượng cho lưới điện thông qua việc tạo ra khí mê-tan (the grid via methane generation) từ việc ủ các phần không ăn được của thực vật (composting nonedible parts of plants). Nó cũng sẽ làm giảm đáng kể việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, bằng cách cắt giảm nhu cầu về máy kéo, máy cày và vận chuyển.

Tuy nhiên, một nhược điểm lớn của canh tác thẳng đứng là cây trồng cần có ánh sáng nhân tạo. Nếu không có nó, những cây gần cửa sổ sẽ tiếp xúc với nhiều ánh sáng mặt trời hơn và phát triển nhanh hơn, làm giảm hiệu quả của hệ thống. Nhà kính một tầng (Single-storey greenhouses) có lợi ích của ánh sáng tự nhiên trên cao; mặc dù vậy, nhiều cây vẫn cần ánh sáng nhân tạo.

Một cơ sở nhiều tầng không có ánh sáng tự nhiên trên đầu sẽ đòi hỏi nhiều hơn thế. Việc tạo ra đủ ánh sáng có thể cực kỳ tốn kém (prohibitively expensive), trừ khi có sẵn năng lượng tái tạo rẻ và đây dường như là một nguyện vọng trong tương lai (a future aspiration) hơn là một khả năng cho tương lai gần.

Một biến thể của canh tác thẳng đứng đã được phát triển là trồng cây trong các khay xếp chồng lên nhau di chuyển trên đường ray (stacked trays that move on rails). Di chuyển các khay để cây có đủ ánh sáng mặt trời. Hệ thống này đã hoạt động và hoạt động tốt trong nhà kính một tầng với ánh sáng chiếu từ trên cao xuống: Tuy nhiên, không thể chắc chắn rằng nó có thể hoạt động mà không có ánh sáng tự nhiên trên cao.

Canh tác theo phương thẳng đứng là một nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề mà chúng ta chắc chắn phải đối mặt trong việc sản xuất đủ lương thực cho dân số ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện tại, cần phải làm nhiều hơn nữa để giảm tác động bất lợi (detrimental impact) mà nó có thể gây ra đối với môi trường, đặc biệt là về việc sử dụng năng lượng. Mặc dù có thể phần lớn lương thực của chúng ta sẽ được trồng trong các tòa nhà chọc trời trong tương lai, nhưng hầu hết các chuyên gia hiện nay đều tin rằng có nhiều khả năng chúng ta sẽ sử dụng không gian có sẵn trên các mái nhà đô thị.

 

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 1/ Passage 2-

Bánh xe Falkirk

Một thành tựu kỹ thuật độc đáo

 

 

Bánh xe Falkirk ở Scotland là phương tiện quay nâng thuyền đầu tiên và duy nhất trên thế giới. Khai trương vào năm 2002, nó là trung tâm của dự án Millennium Link đầy tham vọng trị giá 84,5 triệu bảng Anh nhằm khôi phục khả năng điều hướng trên khắp Scotland bằng cách kết nối lại các tuyến đường thủy lịch sử của Kênh đào Forth & Clyde và Union.

Thách thức lớn của dự án nằm ở chỗ Kênh Forth & Clyde nằm dưới mực nước của Kênh Union 35 mét. Trong lịch sử, hai con kênh đã được nối với nhau gần thị trấn Falkirk bởi một chuỗi 11 khóa -mực nước trong các đoạn kênh được bao bọc có thể được nâng lên hoặc hạ xuống – được nâng xuống trong khoảng cách 1,5 km. Các khóa này đã được tháo dỡ (dismantled) vào năm 1933, do đó phá vỡ liên kết của 2 con kênh (Forth&Clyde và Union). Khi dự án được khởi động vào năm 1994, Cơ quan Đường thủy Anh rất muốn tạo ra một cột mốc ấn tượng của thế kỷ XXI (dramatic twenty-first-century landmark), không chỉ là một kỷ niệm (commemoration) phù hợp của Thiên niên kỷ mà còn là một biểu tượng lâu dài cho sự tái tạo kinh tế (the economic regeneration) của khu vực.

Nhiều ý tưởng đã được đệ trình cho dự án, bao gồm các ý tưởng từ các dạng trứng lăn cho đến các thùng nghiêng, từ các ván bập bênh khổng lồ cho đến các đường ray trên cao (from rolling eggs to tilting tanks, from giant seesaws to overhead monorails). Người chiến thắng cuối cùng là bản kế hoạch cho thang máy nâng thuyền rất lớn mà sau này trở thành Falkirk Wheel. Hình dạng độc đáo của cấu trúc được cho là lấy cảm hứng từ nhiều nguồn khác nhau, cả nhân tạo và tự nhiên, đáng chú ý nhất là hình ảnh chiếc rìu hai đầu của người Celtic, nhưng cũng chính là cánh quạt quay khổng lồ của một con tàu, lồng ngực của cá voi hoặc xương sống của cá .

Tất cả các bộ phận khác nhau của Bánh xe Falkirk đều được xây dựng và lắp ráp, giống như một bộ đồ chơi xây dựng khổng lồ, tại Butterley Engineering’s Steelworks ở Derbyshire, cách Falkirk khoảng 400 km. Một nhóm ở đó đã cẩn thận lắp ráp 1.200 tấn thép, tỉ mỉ (painstakingly) lắp các mảnh với nhau với độ chính xác chỉ 10 mm để đảm bảo hoàn hảo đến khớp cuối cùng. Vào mùa hè năm 2001, cấu trúc sau đó được tháo dỡ và vận chuyển (dismantled and transported) trên 35 xe tải đến Falkirk, trước khi tất cả được bắt vít lại với nhau trên mặt đất, và cuối cùng được cẩu lên vị trí thành năm đoạn lớn. Bánh xe Falkirk này cần phải chịu được ứng áp lực lớn và thay đổi liên tục khi nó quay, do đó, để làm cho kết cấu chắc chắn hơn, các phần thép được bắt vít thay vì hàn với nhau. Hơn 45.000 lỗ bu lông được khớp với bu lông của chúng và mỗi bu lông đều được siết chặt bằng tay (hand-tightened).

Bánh xe bao gồm hai bộ hình lưỡi rìu đối nhau, được gắn cách nhau khoảng 25 mét với một cột sống cố định ở giữa. Hai chiếc ‘gondola’ chứa đầy nước có đường kính đối lập nhau, mỗi chiếc có dung tích 360.000 lít, được lắp giữa hai đầu của cánh tay. Những chiếc thuyền gondola này luôn có trọng lượng như nhau, cho dù chúng có chở thuyền hay không. Điều này là do, theo nguyên tắc dịch chuyển của Archimedes, các vật thể trôi nổi sẽ dịch chuyển trọng lượng của chính chúng trong nước. Vì vậy, khi một chiếc thuyền đi vào một chiếc thuyền gondola, lượng nước rời khỏi chiếc thuyền gondola nặng đúng bằng một chiếc thuyền. Điều này giữ cho Bánh xe cân bằng và do đó, mặc dù trọng lượng thuyền có khổng lồ chăng nữa, nó vẫn quay 180 ° trong năm phút rưỡi mà sử dụng rất ít năng lượng. Chỉ cần 1,5 kilowatt-giờ (5,4 MJ) năng lượng để quay Bánh xe – giống như cách đun sôi tám ấm nước nhỏ trong nhà.

Thuyền cần được nâng lên sẽ đi vào lưu vực của Kênh Forth & Clyde và sau đó đi vào gondola phía dưới của Bánh xe. Hai cổng thép thủy lực được nâng lên để bịt kín gondola khỏi nước trong lưu vực kênh. Nước giữa các cửa sau đó được bơm ra ngoài. Một kẹp thủy lực, ngăn các cánh tay của Bánh xe di chuyển trong khi gondola được gắn vào đế, được tháo ra, cho phép Bánh xe quay. Trong phòng máy trung tâm, một loạt mười động cơ thủy lực sau đó bắt đầu quay trục trung tâm. Trục nối với các tay bên ngoài của Bánh xe, trục này bắt đầu quay với tốc độ 1/8 vòng một phút. Khi bánh xe quay, những chiếc thuyền nằm trong gondola được giữ ở vị trí thẳng đứng nhờ một hệ thống bánh răng đơn giản. Hai bánh răng rộng tám mét quay quanh một bánh răng cố định bên trong có cùng chiều rộng, được nối với nhau bằng hai bánh răng nhỏ hơn chuyển động ngược chiều với bánh răng bên ngoài – để đảm bảo rằng thuyền gondola luôn ở trạng thái cân bằng. Khi gondola lên đến đỉnh, con thuyền sẽ đi thẳng vào cầu dẫn nước nằm ở độ cao 24 mét trên lưu vực kênh.

 

Thang quay cần phải xoay thêm 11 mét nữa để đạt được mực nước của kênh Union bằng cách dùng các cặp ổ khóa. Bánh xe không thể được xây dựng để nâng thuyền quá mức 35 mét giữa hai kênh vì sự hiện diện của bức tường Antonine lịch sử được xây dựng bởi những người La Mã vào thế kỷ thứ hai. Thuyền di chuyển dưới bức tường này qua một đường hầm, sau đó đi qua các ổ khóa, và cuối cùng là đến Kênh Union.


Falkirk Wheel, gọi tên theo vùng phụ cận của Falkirk miền Trung của Scotland, là hệ thống nâng tàu bằng phương pháp quay duy nhất trên thế giới. Nó giúp nối liền vùng Forth và kênh Clyde Canal với kênh chung Union Canal. Sự chênh lệch độ cao giữa 2 dòng kênh là 24m (79ft) gần bằng độ cao của một nhà cao 8 tầng. Vì thế họ không thể đào kênhnhánh để liên thông 2 dòng kênh này lại với nhau. Kiến trúc này nằm gần pháo đài Lâu đài Rough (Rough Castle Fort) và làng Tamfourhill. Ngày 24 thàng 5 năm 2002, nữ hoàng Elizabeth II khánh thành Falkirk Wheel như một phần trong chương trình kỷ niệm đám cướI vàng của bà. Lễ khánh thành kéo dài trễ hơn dự kiến khoảng 1 tháng vì lũ về. Ngoài giá trị về giao thông, Falkirk Wheel còn là một công trình kiến trúc ngoạn mục, và là điểm tham quan du lịch đáng lưu ý. Giá vé thăm quan cho người lớn lên đến 7,95 bảng và 4,95 bảng cho trẻ em. Theo thống kê thì kinh phí để người ta xây dựng chiếc thang máy đường thủy này lên tới 84,5 triệu bảng. Falkirk Wheel được đưa vào hoạt động từ năm 2002 cho đến nay, nó là điểm thu hút khách du lịch hàng đầu của Scotland. Vòng răng có đường kính 35m, bao gồm hai cánh tay đối nhau có tầm mở rộng 15 mét vượt ra ngoài trục trung tâm Kể từ khi thang máy đường thủy mở cửa đã có khoảng 4.4 triệu người đã trải nghiệm, với khoảng 400.000 người trải nghiệm mỗi năm.

Hiện có hẳn một tour tham quan cây cầu thang máy độc đáo này trong vòng 1 tiếng. Năm 2010, giá vé cho 1 tour tham quan cây cầu có giá 7,95 bảng cho người lớn và 4,95 bảng cho trẻ em từ 3 – 15 tuổi (miễn phí cho trẻ em dưới 3 tuổi).Thật sự xứng đáng là một trong những điểm tham quan nếu như bạn có điều kiện đi du lịch sang nước Scotland.

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 1/ Passage 3-

Giảm tác động của biến đổi khí hậu

Báo cáo của Mark Rowe về các dự án địa kỹ thuật đầy tham vọng đang được nghiên cứu bởi giới khoa học.

 

A

Khi chúng ta càng lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch thì lượng CO2 thải vào bầu khí quyền càng nhiều, vì vậy rất nhiều chuyên gia đều đồng ý rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu một cách đáng kể như hiện nay là điều không thể tránh khỏi. Họ tin rằng điều tốt nhất chúng ta có thể làm là giữ nó ở mức hợp lý và hiện tại lựa chọn 

nghiêm túc duy nhất (only serious option) để làm điều này là cắt giảm lượng khí thải carbon của chúng ta. Nhưng trong khi một số quốc gia đang đạt được những bước tiến lớn (major strides) trong vấn đề này, thì đa số đang gặp khó khăn lớn ngay cả khi ngăn chặn tốc độ gia tăng (even stemming the rate of increase), chưa nói đến việc đảo ngược nó. Do đó, ngày càng có nhiều nhà khoa học bắt đầu khám phá sự thay thế của địa kỹ thuật (geo-engineering) – một thuật ngữ nói chung chỉ sự can thiệp của con người đến môi trường (manipulation of the environment) trên diện rộng. Theo những người đề xuất, địa kỹ thuật tương đương với một máy phát điện dự phòng: nếu Kế hoạch A – giảm sự phụ thuộc của chúng ta vào nhiên liệu hóa thạch – không thành công, chúng tôi yêu cầu Kế hoạch B, sử dụng các kế hoạch lớn để làm chậm hoặc đảo ngược quá trình ấm lên toàn cầu.

B

Địa kỹ thuật; đã được chứng minh là có hiệu quả, ít nhất là ở quy mô nhỏ (a small localised scale). Trong nhiều thập kỷ, các cuộc diễu hành của MayDay ở Moscow đã diễn ra dưới bầu trời trong xanh, máy bay mang đá khô, bạc iodide và bột xi măng để làm tan các đám mây (to disperse clouds). Ngày nay, nhiều kế hoạch được đề xuất có thể làm đảo ngược và giảm lượng ánh sáng mặt trời chiếu tới hành tinh. Ý tưởng thu hút nhất trong số đó được đề xuất bởi Giáo sư Roger Angel của Đại học Arizona.  Giải pháp của ông là sử dụng 16 nghìn tỉ phi thuyền không gian siêu nhỏ, mỗi cái nặng khoảng 1 gram, để tạo ra 1 tấm khiên trong suốt khúc xạ ánh sáng mặt trời (to form a transparent, sunlight-refracting sunshade) ở quỹ đạo cách Trái Đất 1,5 triệu km. Angel lập luận rằng tấm khiên có thể làm giảm lượng ánh sáng tới Trái đất đi 2% (by two per cent).

C

Phần lớn các dự án kỹ thuật địa lý được thực hiện cho đến nay (so far carried out) – bao gồm trồng rừng trên sa mạc (planting forests in deserts)lắng đọng sắt trong đại dương (depositing iron in the ocean) để kích thích sự phát triển của tảo (algae) – đều tập trung vào việc làm mát Trái đất nói chung. Nhưng một số dự án đặc biệt quan tâm đến việc đảo ngược sự tan chảy ở các cực (at reversing the melting at the poles), đặc biệt là Bắc Cực. Lý do là nếu chúng ta càng tạo ra thêm nhiều băng đá tại khu vực có vĩ độ cao, lượng ánh sáng bị phản xạ lại vào không gian càng nhiều, nhờ vậy sẽ giảm đi sự ấm lên của các đại dương và khí quyển.

D

Một số nhà khoa học đã đề xuất khái niệm giải phóng các bình xịt khí aerosol vào tầng bình lưu (stratosphere) phía trên Bắc Cực. Bằng cách sử dụng sương lưu huỳnh hay H2S, theo đó SO2 sẽ tạo ra các đám mây và giúp che mù quanh Trái Đất (lead to a global dimming). Ý tưởng này được mô phỏng dựa trên các vụ nổ núi lửa lịch sử, chẳng hạn như vụ nổ núi lửa Pinatubo ở Philippines vào năm 1991, dẫn đến việc nhiệt độ toàn cầu giảm 0,5 ° C trong thời gian ngắn. Các nhà khoa học cũng đã xem xét kỹ lưỡng (scrutinised) liệu có thể bảo quản các tảng băng ở Greenland bằng dây cáp có độ căng cao được gia cố, ngăn các tảng băng trôi xuống biển hay không. Trong khi đó ở Bắc Cực của Nga, các kế hoạch địa kỹ thuật bao gồm việc trồng hàng triệu cây bạch dương (birch). Trong khi những cây thông bản địa xanh ngát quanh năm ở các khu vực che bóng cho tuyết và hấp thụ bức xạ (absorb radiation), các loài bạch dương sẽ rụng lá vào mùa đông (shed their leaves in winter), do đó tạo điều kiện cho bức xạ bị phản chiếu bởi tuyết. Một số nhà khoa học khí hậu cho biết việc định tuyến lại các con sông ở Nga để tăng lưu lượng nước lạnh đến các khu vực hình thành băng cũng có thể được sử dụng để làm chậm quá trình ấm lên.

E

Nhưng liệu những kế hoạch như vậy có bao giờ được thực hiện? Nói chung, các nhà khoa học tham gia nghiên cứu là  những người thận trọng nhất về địa kỹ thuật lý. Angel nói rằng kế hoạch của ông là “không thể thay thế cho (no substitute for) việc phát triển năng lượng tái tạo: giải pháp lâu dài duy nhất”. Và Tiến sĩ Phil Rasch của Phòng thí nghiệm Quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương có trụ sở tại Hoa Kỳ lại bảo vệ quan điểm về (equally guarded about) tầm quan trọng của địa kỹ thuật: ‘Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đồng ý rằng một ngày nào đấy khi chúng ra dừng việc áp dụng địa kỹ thuật, có lẽ chỉ trong khoảng 10-20 năm Trái Đất sẽ nhanh chóng trở về tình trạng cũ thôi (would return to its pre-engineered condition very rapidly)’. Đó chắc chắn là điều đáng lo ngại. ”

F

Trung tâm Nghiên cứu Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ đã gợi ý rằng đề xuất đưa lưu huỳnh vào khí quyển có thể ảnh hưởng đến lượng mưa trên khắp các vùng nhiệt đới và Nam Đại Dương. Rasch cho biết: “Địa Kỹ thuật có kế hoạch đưa các khí aerosols ở tầng bình lưu hoặc tạo hạt giống các đám mây sẽ có tác dụng làm mát hành tinh và làm tăng mức độ băng biển,” Rasch nói. “Nhưng tất cả các mô hình cho thấy một số tác động đến sự phân bố lượng mưa (the distribution of precipitation).”

G

Tiến sĩ Dan Hunt, từ Trường Khoa học Địa vật lý thuộc Đại học Bristol, người đã nghiên cứu các tác động có thể xảy ra của các phương án che nắng và khí aerosol (the sunshade and aerosol schemes) đối với khí hậu, cho biết: “Một rủi ro nữa với các dự án địa kỹ thuật là bạn có thể “quá tay (overshoot) ”. “Bạn có thể đưa nhiệt độ toàn cầu trở lại mức tiền công nghiệp (pre-industrial levels), nhưng rủi ro là các cực vẫn sẽ ấm hơn mức bình thường và các vùng nhiệt đới sẽ mát hơn so với trước khi công nghiệp hóa.” Hunt nói, “Để tránh kịch bản này, dự án của Angel sẽ chỉ nên được vận hành với một nửa công suất; tất cả những điều kể trên càng tăng cường cho luận điểm của ông rằng cách tốt nhất là tránh lệ thuộc hoàn toàn vào công nghệ địa kỹ thuật”.

H

Lý do chính tại sao địa kỹ thuật được ủng hộ bởi rất nhiều người trong giới khoa học là bởi vì hầu như những nhà khoa học không đặt niềm tin vào việc các chính trị gia sẽ đồng ý và sau đó đưa vào thực hiện việc cắt giảm lượng carbon cần thiết. Ngay cả các tổ chức bảo tồn hàng đầu cũng thấy giá trị việc điều tra tiềm năng của kỹ thuật địa lý. Theo Tiến sĩ Martin Sommerkorn, cố vấn về biến đổi khí hậu cho Chương trình Bắc Cực Quốc tế của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới, “Sự biến đổi khí hậu mà loài người gây ra đã khiến chúng ta không thể không cân nhắc kỹ lưỡng (shouldn’t exclude thinking) về địa kỹ thuật cũng như những khả năng nó có thể tạo ra.”

 

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 2/ Passage 1-

Raising the Mary Rose (Con tàu Mary Rose)

Làm thế nào một tàu chiến thế kỷ mười sáu được phục hồi từ đáy biển

 

Vào ngày 19 tháng 7 năm 1545, các hạm đội (fleets) của Anh và Pháp đã tham gia vào một trận chiến trên biển ngoài khơi bờ biển miền nam nước Anh trong vùng nước được gọi là Solent, giữa Portsmouth và Isle of Wight. Trong số các tàu của Anh có một chiến hạm mang tên Mary Rose. Được xây dựng ở Portsmouth khoảng 35 năm trước đó, nó đã đạt được nhiều chiến công trong quãng thời gian chiến đấu lâu dài của mình, và là chiến hạm yêu thích của Vua Henry VIII. Nhiều giả thuyết về điều xảy ra với Mary Rose đã được đưa ra: trong khi các nhân chứng đều khẳng

định rằng Mary Rose không bị đánh chìm bởi hải quân Pháp, một số giả thuyết khác thì cho rằng nó đã quá cũ kỹ (outdated), chở quá tải (overladen), đáy tàu chìm quá sâu dưới nước (sailing too low in the water), hoặc là nó đã bị mất kiểm soát bởi những thủy thủ vô kỷ luật. Tuy nhiên, điều không thể bàn cãi là Mary Rose đã chìm ở Solent vào ngày hôm đó, kéo theo nó ít nhất 500 thủy thủ. Sau trận chiến, những nỗ lực tìm lại con tàu đều bị thất bại.

Mary Rose đã yên nghỉ dưới đáy biển, nằm nghiêng về phía mạn phải (bên phải) của nó một góc xấp xỉ 60 độ. Vỏ tàu (thân tàu) đóng vai trò như một cái bẫy giữ cát và bùn do dòng Solent mang theo. Kết quả là phía mạn phải bị vùi lấp nhanh chóng, để lại mạn trái tàu lộ ra bị ăn mòn

vật lý cũng như ăn mòn bởi các sinh vật biển. Do cách con tàu chìm nên gần như toàn bộ nửa mạn phải còn nguyên vẹn. Trong suốt thế kỷ XVII và XVIII, toàn bộ phía mạn phải được bao phủ bởi một lớp đất sét cứng màu xám, giúp giảm thiểu quá trình xói mòn (minimised further erosion).

Sau đó, vào ngày 16 tháng 6 năm 1836, một số ngư dân ở Solent đã tìm thấy các dụng cụ đánh cá của mình bị mắc vào một vật thể ở dưới nước (an underwater obstruction) mà hóa ra sau này lại được xác định là tàu Mary Rose. Những ngư dân nhờ thợ lặn John Deane, người khi đó đang thám hiểm một con tàu đắm ở gần đấy, đến gỡ các dụng cụ đánh cá kia lên. Deane lặn xuống, và tìm thấy thiết bị của ngư dân bị mắc vào một thanh gỗ nhô ra khỏi đáy biển một chút. Khám phá thêm, anh phát hiện ra một số loại gỗ khác và một khẩu súng bằng đồng. Deane vẫn tiếp tục thỉnh thoảng (intermittently) lặn trên địa điểm này cho đến năm 1840, thu hồi thêm một số khẩu súng, hai cây cung, nhiều loại gỗ khác nhau, một phần của máy bơm và nhiều phát hiện nhỏ khác.

Mary Rose sau đó chìm vào bóng tối (faded into obscurity) trong một trăm năm nữa. Nhưng vào năm 1965, nhà sử học quân sự và là thợ lặn nghiệp dư Alexander McKee, kết hợp với (in conjunction with) Câu lạc bộ Sub-Aqua của Anh, đã khởi xướng một dự án mang tên ‘Solent Ships’. Trên giấy tờ, đây là một kế hoạch kiểm tra một số xác tàu đã biết (a number of known wrecks) ở Solent, thực ra điều mà McKee hy vọng là tìm thấy Mary Rose. Các kỹ thuật tìm kiếm thông thường tỏ ra không đạt yêu cầu, vì vậy McKee đã hợp tác với Harold E. Edgerton, giáo sư kỹ thuật điện tại Viện Công nghệ Massachusetts. Năm 1967, hệ thống sonar quét bên của Edgerton (Edgerton’s side-scan sonar systems) phát hiện một vật thể lớn, có hình dạng khác thường, mà McKee tin rằng đó là Mary Rose.

Các cuộc khai quật tiếp theo (Further excavations) cho thấy những mảnh gỗ lạc và một khẩu súng bằng sắt. Nhưng đỉnh điểm của hoạt động đến vào ngày 5 tháng 5 năm 1971, một phần khung của con tàu được phát hiện. McKee và nhóm của anh ấy giờ đã biết chắc chắn (knew for certain that) rằng họ đã tìm thấy xác tàu, nhưng vẫn chưa biết rằng nó cũng chứa một kho tàng đồ tạo tác được bảo quản tuyệt đẹp (housed a treasure trove of beautifully preserved artefacts). Sự quan tâm ^ đến dự án ngày càng tăng bởi Thái tử Charles là Chủ tịch và Tiến sĩ Margaret Rule Giám đốc Khảo cổ học, và vào năm 1979, Quỹ Mary Rose Trust được thành lập. Quyết định có trục vớt xác tàu (salvage the wreck) hay không không phải là một quyết định dễ dàng, mặc dù một cuộc khai quật vào năm 1978 đã cho thấy có thể nâng thân tàu lên (raise the hull). Mặc dù mục đích ban đầu của họ là trục vớt thân tàu lên nếu có thể nhưng mãi đến tận tháng giêng năm 1982, khi tất cả các thông tin cần thiết được thu thập đầy đủ, họ mới bắt đầu tiến hành việc trục vớt.

Một yếu tố quan trọng trong việc cố gắng trục vớt tàu Mary Rose là việc thân tàu hở sườn (an open shell). Điều này dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra: đó là thực hiện hoạt động nâng hạ (carry out the lifting operation) trong ba giai đoạn rất riêng biệt. Thân tàu được gắn vào khung nâng thông qua mạng lưới bu lông và dây nâng (via a network of bolts and lifting wires). Sự cố thân tàu bị hút ngược xuống bùn (being sucked back downwards into the mud) đã được khắc phục bằng cách sử dụng 12 kích thủy lực (12 hydraulic jacks). Những cái kích thủy lực này đã nâng xác tàu lên vài cm trong khoảng thời gian vài ngày, và 4 chân của khung đỡ cũng được nâng lên từ từ. Chỉ đến khi thân tàu được neo thoải mái vào khung nâng (the lifting frame), tách ra khỏi đáy biển (clear of the seabed) và không còn chịu lực hút (suction effect) từ lớp bùn xung quanh thì giai đoạn thứ 2 của công cuộc trục vớt mới được tiến hành. Trong giai đoạn này, khung nâng được cố định vào một móc gắn với cần trục (a hook attached to a crane), và thân tàu được nâng lên hoàn toàn khỏi đáy biển và chuyển vào giàn nâng dưới nước (transferred underwater into the lifting cradle). Việc này đòi hỏi phải đặt các chân của khung đỡ vào chính xác vị trí của các lỗ giá trên giàn nâng. Giá nâng được thiết kế để phù hợp với thân tàu bằng cách sử dụng các bản vẽ khảo sát khảo cổ học và được trang bị các túi khí để cung cấp thêm đệm (additional cushioning) cho khung gỗ mỏng manh của thân tàu. Giai đoạn thứ ba và cuối cùng là nâng toàn bộ cấu trúc lên không trung, lúc này thân tàu cũng được nâng đỡ từ bên dưới. Cuối cùng, vào ngày 11 tháng 10 năm 1982, hàng triệu người trên khắp thế giới đã nín thở khi bộ xương bằng gỗ của Mary Rose được nâng lên khỏi mặt nước, sẵn sàng được đưa về nhà ở Portsmouth.

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 2/ Passage 2-

Điều gì đã phá hủy nền văn minh của Đảo Phục sinh?

 

A

Đảo Phục Sinh, hay Rapu Nui như được biết đến ở địa phương, là nơi có hàng trăm bức tượng người cổ đại – gọi là moai. Sau khi người Polynesia định cư tại hòn đảo xa xôi ở Thái Bình Dương này, nó vẫn bị cô lập trong nhiều thế kỷ. Tất cả nguồn năng lượng và tài nguyên để tạo nên các pho tượng moai – một số cao đến 10 mét và nặng hơn 7,000 kg – đều bắt nguồn từ hòn đảo này. Tuy nhiên, khi các nhà thám hiểm Hà Lan đổ bộ vào năm 1722, họ đã gặp một nền văn minh thời kỳ đồ đá. Các moai được chạm khắc bằng các công cụ đá, sau đó được vận chuyển nhiều cây số đến các nền đá lớn mà không cần đến sự hỗ trợ của bánh xe hay sức kéo từ động vật. Danh tính của những người xây dựng moai vẫn bị nghi ngờ cho đến tận thế kỷ XX. Thor Heyerdahl, nhà dân tộc học (ethnographer)nhà thám hiểm (adventurer) người Na Uy, cho rằng những bức tượng được tạo ra bởi tổ tiên của người Inca (pre-Inca peoples) từ Peru. Tác giả có ấn phẩm bán chạy nhất người Thụy Sỹ, Erich von Daniken thì lại tin rằng chúng được chế tạo bởi những người ngoài hành tinh bị 

mắc kẹt ở đây (stranded extraterrestrials). Những bằng chứng về ngôn ngữ học, khảo cổ học và di truyền học hiện đại đã chỉ rõ ra rằng người Polynesia là những người đã chế tạo nên những bức tượng này, nhưng cách họ di chuyển chúng vẫn chưa được phát hiện ra. Theo truyền thuyết địa phương (Local folklore) thì những bức tượng tự di chuyển, trong khi các nhà nghiên cứu lại cho rằng tổ tiên chúng ta bằng một cách nào đó đã kéo những bức tượng đi chỉ với dây thừng và những khúc gỗ.

B

Khi người châu Âu đến, Rapa Nui là đồng cỏ và chỉ có vài thân cây xơ xác (a few scrawny trees). Tuy nhiên, vào những năm 1970 và 1980, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy phấn hoa (pollen) được bảo quản trong trầm tích hồ, điều này chứng tỏ hòn đảo đã được bao phủ bởi những khu rừng cọ tươi tốt (lush palm forests) hàng nghìn năm. Chỉ sau khi người Polynesia đến thì những khu rừng đó mới biến mất. Nhà khoa học Mỹ Jared Diamond tin rằng người Rapanui – hậu duệ (descendants) của những người định cư Polynesia – đã phá hủy (wrecked) môi trường của chính họ. Thật không may, họ đã định cư trên một hòn đảo cực kỳ mỏng manh (an extremely fragile island) – khô ráo, mát mẻ nhưng quá xa xôi để nhận được nguồn dinh dưỡng từ cơn gió chứa bụi tro núi lửa (windblown volcanic ash). Khi những người dân trên đảo phá rừng để lấy củi và làm ruộng, rừng không mọc lại. Khi cây cối trở nên khan hiếm (scarce) và người dân không thể đóng xuồng gỗ (no longer construct wooden canoes) để đánh cá nữa, họ ăn thịt chim. Xói mòn đất (Soil erosion) làm giảm năng suất cây trồng của họ. Ông vẫn cho rằng, trước khi người châu Âu đến, Rapanui đã rơi vào cuộc nội chiến và ăn thịt đồng loại (had descended into civil war and cannibalism). Diamond viết, sự sụp đổ của nền văn minh biệt lập (isolated civilisation) của họ là một ‘tình huống xấu nhất (worst-case scenario) đối với những gì loài người sẽ phải đối mặt trong tương lai’.

C

Ông nghĩ rằng con moai đã đẩy nhanh (accelerated) quá trình tự hủy diệt. Diamond miêu tả (interprets) chúng như là thứ để các thủ lĩnh đối lập, những người bị mắc kẹt ở một hòn đảo nhỏ xa xôi và chẳng có cách nào khác để khẳng định sự thống trị và phô trương sức mạnh của mình. Họ cạnh tranh nhau bằng cách chế tạo nên những bức tượng ngày một lớn hơn. Diamond cho rằng họ đã đặt tượng lên các xe lăn gỗ (wooden sledges) được kéo trên đường ray gỗ (hauled over log rails), nhưng việc đó đòi hỏi rất nhiều gỗ lẫn nhân công. Để cung cấp đủ lương thực cho cư dân, nhiều đất đai thậm chí lại càng phải được phát quang thêm nữa. Khi nguồn gỗ không còn và cuộc nội chiến bắt đầu, những cư dân trên đảo bắt đầu kéo đổ các bức tượng xuống (began toppling the moai). Đến thế kỷ 19 chẳng còn bức tượng nào đứng nguyên cả.

D

Nhà khảo cổ Terry Hunt của Đại học Hawaii và Carl Lipo của Đại học Bang California đồng ý rằng Đảo Phục sinh đã mất đi những khu rừng tươi tốt và đó là một ‘thảm họa sinh thái (ecological catastrophe)’ – nhưng họ tin rằng người dân trên đảo không phải là nguyên nhân chính. Và chắc chắn cũng không phải do các moai. Các cuộc khai quật khảo cổ chỉ ra rằng người Rapanui đã nỗ lực anh dũng để bảo vệ tài nguyên của những cánh đồng bạc màu, hứng đầy gió lốc (wind-lashed, infertile fields) của họ. Họ đã xây dựng hàng ngàn tấm chắn gió bằng đá tròn (circular stone windbreaks) và làm vườn bên trong chúng, đồng thời sử dụng đá núi lửa vỡ để giữ ẩm cho đất. Nói tóm lại, Hunt và Lipo lập luận, Rapanui thời tiền sử là những người tiên phong trong canh tác bền vững (sustainable farming).

E

Hunt và Lipo cho rằng xây dựng moai là một hoạt động giúp giữ hòa bình giữa những người dân trên đảo. Họ cũng tin rằng việc di chuyển moai cần ít người và không cần gỗ, vì chúng được kéo đi theo phương thẳng đứng. Về vấn đề này, Hunt và Lipo nói rằng các bằng chứng khảo cổ cũng củng cố các truyền thuyết của người Rapanui.

Các thí nghiệm gần đây chỉ ra rằng chỉ cần 18 người, với ba sợi dây chắc chắn và một chút thực hành, có thể dễ dàng điều động một bản sao moai nặng 1.000 kg đi vài trăm mét. NPhần bụng nhô ra trên các bức tượng khiến chúng nghiêng về phía trước và phần đế hình chữ D (a D-shaped base) cho phép người điều khiển lăn và lắc (roll and rock) chúng sang hai bên.

F

Hơn nữa, Hunt và Lipo tin rằng những người định cư không phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc cây trên đảo bị mất. Các phát hiện khảo cổ học về các loại hạt (Archaeological finds of nuts) từ cây cọ đã tuyệt chủng ở Đảo Phục sinh cho thấy những đường rãnh nhỏ do răng của chuột Polynesia tạo ra. Những con chuột đến cùng với những người định cư, và theo Hunt và Lipo tính toán thì chỉ cần vài năm là chúng đã tràn ngập (overrun) hòn đảo rồi. Những con chuột đã ngăn chặn việc trồng lại những cây cọ sinh trưởng chậm này, và do đó ngay cả khi không có chiến dịch phá rừng nào của những người định cư (the settlers’ campaign of deforestation) thì rừng Rapa Nui vẫn bị tàn phá (doomed). Không nghi ngờ gì nữa, lũ chuột cũng ăn trứng của chim. Hunt và Lipo cũng không thấy bằng chứng nào cho thấy nền văn minh Rapanui đã sụp đổ khi rừng cọ bị phá hủy. Họ cho rằng dân số của nó tăng lên nhanh chóng và ít nhiều vẫn ổn định cho đến khi người châu Âu đến, những người đã đem đến những căn bệnh chết người mà cư dân trên đảo không có khả năng miễn dịch. Sau đó, vào thế kỷ 19 bọn lái buôn nô lệ (slave traders) khiến cho dân số bị sụt giảm (decimated) nghiêm trọng, chỉ còn 111 người vào năm 1877.

G

Vì vậy, điều mà Hunt và Lipo nhìn thấy là một hòn đảo được trú ngụ bởi những người chế tạo tượng moai khéo léo và hòa bình và những người chú ý quản lý đất đai, chứ không phải là những kẻ hủy diệt đầy liều lĩnh phá hoại môi trường và xã hội của chính mình. Họ khẳng định rằng ‘Đảo Phục Sinh đáng lẽ ra sẽ là một câu chuyện về sự thành công thay vì là một thất bại thảm hại’. Dù là trường hợp nào, thế giới nói chung chắc chắn có thể học những bài học quý giá từ câu chuyện của đảo Phục Sinh.

 

 

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 2/ Passage 3-

THẦN KINH HỌC

 

 

Môn thần kinh học (neuroaesthetics) đang nổi lên (emerging) trong việc tìm cách đưa tính khách quan của khoa học (scientific objectivity) vào việc nghiên cứu nghệ thuật (the study of art), và nó cũng đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn rất nhiều (a better understanding of) kiệt tác (masterpieces). Chẳng hạn như những hình ảnh mờ ảo trong những bức tranh thuộc trường phái Ấn tượng (Impressionist 

paintings) có vẻ sẽ kích thích hạch hạnh nhân (the brain’s amygdala) trong não bộ. Bởi vì hạch hạnh nhân đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự cảm nhận của chúng ta, khám phá này có thể lý giải nguyên nhân tại sao rất nhiều người cảm thấy các bức tranh giống như đang chuyển động vậy.

 

Vậy liệu sự tiếp cận như vậy phải chăng cũng có thể làm sáng tỏ những bức tranh trừu tượng của thể kỷ XX, từ những hình khối đầy màu sắc trong những tác phẩm của Mondrian đến những tác phẩm tưởng như là những sắp đặt ngẫu nhiên của màu mực bị vấy lên (haphazard arrangements of splashed paint) vải của Pollock? Những kẻ hoài nghi (Sceptics) cho rằng người ta thích những bức tranh ấy bởi đơn giản vì chúng nổi tiếng. Chúng ta chắc chắn có khuynh hướng chạy theo đám đông (an inclination to follow the crowd). Khi bị yêu cầu đưa ra một quyết định mang tính nhận thức đơn giản (simple perceptual decisions) như là chọn một hình với đúng hình ảnh đã bị xoay đi của nó chẳng hạn, người ta thường sẽ chọn phải một đáp án sai mười mươi nếu họ thấy những người khác cũng chọn như vậy. Có thể dễ dàng tưởng tượng rằng tâm lý này thậm chí còn tác động nhiều hơn đến một khái niệm mờ nhạt (a fuzzy concept) như phê bình nghệ thuật (art appreciation), một lãnh vực không có câu trả lời đúng hay sai.

Angelina Hawley-Dolan, Đại học Boston, Massachusetts, đã giải quyết cuộc tranh luận này (responded to this debate) bằng cách yêu cầu các tình nguyện viên xem nhiều cặp tranh – gồm tác phẩm của các nghệ sĩ trừu tượng nổi tiếng  (famous abstract artists) hoặc các bức vẽ nguệch ngoạc (doodles) của trẻ sơ sinh, tinh tinh và voi. Sau đó, họ phải đánh giá xem họ thích cái nào hơn. Một phần ba các bức tranh không có chú thích, trong khi nhiều bức tranh được dán nhãn không chính xác – những người chơi tranh có thể nghĩ rằng họ đang xem những nét vẽ lộn xộn của một con tinh tinh trong khi họ thực sự nhìn thấy một kiệt tác được ca ngợi (an acclaimed masterpiece). Trong mỗi nhóm thử nghiệm (set of trials), các tình nguyện viên thường thích tác phẩm của các nghệ sĩ nổi tiếng (renowned artists), ngay cả khi họ tin rằng đó là của một con vật hoặc một đứa trẻ. Dường như người xem có thể cảm nhận được tầm nhìn của nghệ sĩ trong tranh (can sense the artist’s vision in paintings), ngay cả khi họ không thể giải thích tại sao.

Robert Pepperell, một nghệ sĩ làm việc tại Đại học Cardiff, tạo ra những tác phẩm mơ hồ (ambiguous works), không hoàn toàn trừu tượng và cũng không thuộc trường phái hiện thực (neither entirely abstract nor clearly representational). Trong một nghiên cứu, Pepperell và các cộng tác viên của ông đã yêu cầu các tình nguyện viên quyết định xem họ coi một tác phẩm nghệ thuật như thế nào và liệu họ có thấy điều gì quen thuộc trong tác phẩm hay không. Họ càng mất nhiều thời gian để trả lời những câu hỏi này, họ càng đánh giá bức tranh tỉ mỉ hơn (rated the piece under scrutiny), cũng như hoạt động thần kinh càng nhiều. Có vẻ như bộ não coi những hình ảnh này như những câu đố (puzzles), và càng khó giải mã ý nghĩa (decipher the meaning), thì càng được tưởng thưởng nhiều khi tìm ra.

Còn về những họa sĩ như Mondrian, người sở hữu những bức tranh chỉ chứa đựng những đường ngang – dọc bao quanh những khối màu, thì sao? Những tác phẩm của Mondrian thì dễ bị nhầm lẫn là đơn giản, nhưng những nghiên cứu theo dõi hành vi của mắt (eye-tracking studies) cho thấy rằng chúng được sáng tác một cách tỉ mỉ (meticulously composed), và đơn giản chỉ cần xoay bức tranh đi thôi cũng hoàn toàn thay đổi (radically changes) cách chúng ta ngắm chúng. Với bản gốc, các tình nguyện viên có xu hướng ở lại lâu hơn ở một số vị trí nhất định trong hình ảnh, nhưng với các phiên bản đã thay đổi (the altered versions), họ sẽ lướt qua nhanh hơn. Hệ quả là sau đó, khi những tình nguyện viên đánh giá các tác phẩm, họ cho rằng những phiên bản đặt theo chiều khác kia thì kém thu hút hơn.

Trong một nghiên cứu tương tự, Oshin Vartanian của Đại học Toronto đã yêu cầu các tình nguyện viên so sánh những bức tranh gốc với những bức tranh mà ông đã thay đổi bằng cách di chuyển tranh xung quanh trong khung. Ông nhận thấy rằng hầu hết mọi người đều thích bản gốc, cho dù đó là tranh tĩnh vật của Van Gogh (a Van Gogh still life) hay tranh trừu tượng của Miro (an abstract by Miro). Vartanian cũng phát hiện ra rằng việc thay đổi bố cục của các bức tranh làm giảm sự kích hoạt (reduced activation) ở các vùng não liên quan đến giải thích và diễn dịch (linked with meaning and interpretation).

Trong một thí nghiệm khác, Alex Forsythe của Đại học Liverpool đã phân tích sự phức tạp về thị giác (analysed the visual intricacy) của các tác phẩm nghệ thuật khác nhau và kết quả của cô cho thấy rằng nhiều nghệ sĩ sử dụng mức độ chi tiết quan trọng (a key level of detail) để làm hài lòng bộ não. Theo Forsythe, quá ít sẽ khiến tác phẩm trông thật nhàm chán, nhưng quá nhiều sẽ dẫn đến một loại ‘quá tải về mặt nhận thức’. Hơn nữa, các tác phẩm lôi cuốn thuộc cả hai trường phái trừu tượng hay trường phái tượng trưng (both abstract and representational) đều chứa những dấu hiệu của ‘những đồng dạng (fractals)’ – những mô típ lặp đi lặp lại ở các quy mô khác nhau, ‘những đồng dạng’ này thì phổ biến trong cả tự nhiên, ví dụ như hình dạng của những đỉnh núi hay những cành cây. Có thể hệ thống thị giác của chúng ta đã phát triển trong môi trường tự nhiên nên sẽ tiếp nhận những hình ảnh này (process such patterns) dễ dàng hơn.

Điều thú vị là việc bộ não mô tả lại sự chuyển động khi chúng ta nhìn thấy một bức thư tay như thể chúng ta đang xem lại khoảnh khắc sáng tạo của người viết. Điều này khiến cho một số người tự hỏi liệu có phải những tác phẩm của Pollock trông như đầy năng lượng là bởi vì bộ não chúng ta tái lập lại những động tác đầy năng lượng của Pollock khi vẽ tranh hay không..Điều này có thể là do ‘những tế bào thần kinh gương (mirror neurons)’ được biết đến với chức năng bắt chước hành động của những người khác. Tuy nhiên, giả thuyết này cần được kiểm tra một cách kĩ lưỡng (The hypothesis will need to be thoroughly tested). Thậm chí chúng ta còn có thể sử dụng những nghiên cứu về thần kinh học để hiểu được sự trường tồn của nhiều tác phẩm nghệ thuật. Trong khi thời trang chỉ định hình (might shape) những gì hiện đang phổ biến ở thời đại của nó thì những tác phẩm nghệ thuật vừa mắt nhất đối với chúng ta (works that are best adapted to our visual system) rất có thể vẫn sẽ tồn tại mãi (linger) cho dù xu hướng thời trang của những thế hệ đi trước (the trends of previous generations) có bị lãng quên đi rồi hay chăng nữa.

Ngành thần kinh học vẫn còn rất non trẻ – những nghiên cứu trên có lẽ cũng chỉ là khai vị ban đầu mà thôi (only a taste of what is to come). Tuy vậy, sẽ thật ngu ngốc khi giới hạn sự đánh giá nghệ thuật bởi những quy luật khoa học (a set of scientific laws). Chúng ta không nên đánh giá thấp (underestimate) tầm quan trọng của phong cách ở một họa sĩ cụ thể, vị trí của họ trong lịch sử hay môi trường nghệ thuật ở thời đại của họ. Nghệ thuật trừu tượng cho chúng ta cả thách thức lẫn sự tự do để giải mã nó theo nhiều cách khác nhau (to play with different interpretations). Trong một số khía cạnh, nó cũng chẳng khác biệt mấy so với khoa học, lĩnh vực mà chúng ta đang liên tục tìm kiếm những hệ thống, những phương pháp giải mã để có thể quan sát và khám phá (view and appreciate) thế giới theo một cách hoàn toàn mới.

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 3/ Passage 1-

Câu chuyện về lụa

Lịch sử của loại vải sang trọng nhất thế giới, từ Trung Quốc cổ đại cho đến ngày nay

 

Lụa là loại vật liệu mịn, trơn mượt tạo ra từ kén (cocoons) của con dâu tằm (ấu trùng insect larvae), lớp vỏ bảo vệ mềm. Truyền thuyết kể lại rằng Lei Tzu, vợ của Hoàng Đế thống trị Trung Quốc vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, đã khám phá ra con tằm.

Tương truyền rằng khi đang đi dạo trong các khu vườn thượng uyển, bà phát hiện ra vài cây dâu đã bị tàn phá bởi chính những con tằm này. Bà nhặt một số kén tằm và ngồi xuống nghỉ trong chốc lát. Chuyện xảy ra khi bà đang nhấp vài ngụm trà, một cái kén tằm mà bà đã nhăt trước đó rơi vào (landed in) trong trà nóng và bắt đầu bung ra thành những sợ chỉ mịn (to unravel into a fine thread). Lei Tzu nhận thấy rằng bà có thể quấn những sợi chỉ này quanh tay mình. Sau đó, bà đã thuyết phục chồng cho phép bà nuôi những con sâu tằm trên những lùm cây dâu. Bà cũng nghĩ ra một guồng quay đặc biệt (devised a special reel) để kéo những thớ của kén tằm (the fibres from the cocoon) thành các sợi riêng lẻ để chúng đủ bền có thể dệt thành vải. Tuy không biết bao nhiêu phần của câu chuyện trên là thật, nhưng rõ ràng rằng việc sản xuất lụa (silk cultivation) đã tồn tại ở Trung Quốc trong vài nghìn năm qua.

Ban đầu, việc trồng dâu nuôi tằm chỉ được giao cho phụ nữ (solely restricted to women), người thì phụ trách nuôi tằm, người thì thu hoạch và người thì phụ trách dệt. Lụa tơ tằm nhanh chóng trở thành một biểu tượng cho địa vị (a symbol of status), và ban đầu, chỉ có hoàng tộc mới có quyền mặc quần áo làm từ lụa. Luật này dần dần được lới lỏng (gradually relaxed) qua nhiều năm, cuối cùng cho tới triều đại Qing (1644-1911 sau công nguyên), thậm chí nông dân (peasants), tầng lớp thấp nhất (the lowest caste), cũng được quyền mặc lụa. Đôi khi vào triều đại nhà Hán (206 trước công nguyên-220 sau công nguyên), lụa được xem là cống phẩm và cũng được coi là đơn vị tiền tệ. Chính quyền đã trả lương bằng lụa và những người nông dân trả thuế bằng lúa và lụa. Lụa còn được dùng làm quà ngoại giao (diplomatic gifts) cho hoàng đế. Dây câu, dây cung, nhạc cụ âm nhạc và giấy đều làm từ lụa. Dấu hiệu sớm nhất cho việc sử dụng giấy lụa được phát hiện trong ngôi mộ của một hoàng gia (the tomb of a noble) người được ước tính đã chết vào khoảng năm 168 sau công nguyên.

Nhu cầu của loại vải cực đẹp (exotic fabric) này thậm chí đã tạo lên tuyến đường giao thông thương mại (lucrative trade route) nổi tiếng với tên gọi Con Đường Tơ Lụa (the Silk Road), mang lụa đến phương tây và đổi lại lấy vàng, bạc cùng lông cừu cho phương đông. Con đường được đặt tên là Con Đường Tơ Lụa dựa theo hàng hóa giá trị nhất (after its most precious commodity), thứ được coi là còn giá trị hơn cả vàng.

Con Đường Tơ Lụa trải dài trên 6000 km từ phía Đông Trung Quốc tới biển Địa Trung Hải, dọc theo Vạn Lý Trường Thành, vượt qua dãy núi Pamir, băng qua vùng lãnh thổ Afghanistan ngày nay và đi tới vùng Trung Đông, với khu giao dịch chính ở Damascus. Từ đó, hàng hóa (merchandise) được vận chuyển qua biển Địa

Trung Hải. Rất ít thương gia (merchants) tham gia toàn bộ hành trình giao dịch, hàng hóa hầu như được truyền tay qua một vài người trung gian (middlemen).

Với dâu tằm xuất xứ từ Trung Quốc, đất nước này trờ thành nhà sản xuất lụa duy nhất trên thế giới trong hàng trăm năm. Bí mật của việc tạo sản xuất lụa tơ tằm cuối cùng đã hé lộ với phần còn lại của thế giới nhờ đế chế Byzantine (the Byzantine Empire), đế chế thống trị vùng Địa Trung Hải gồm phía Nam Châu Âu, Bắc Phi và Trung Đông trong suốt khoảng thời gian từ 330-1453 trước công nguyên. Theo như một truyền thuyết khác, các nhà sư (monks) làm việc cho hoàng đế Byzantine Justinian đã buôn lậu trứng tằm (smuggle silkworm eggs) tới Constantinople (là Istanbul ở Thổ Nhĩ Kì ngày nay) vào 550 trước công nguyên, bằng cách giấu bên trong những chiếc gậy ba toong rỗng bằng tre (concealed inside hollow bamboo walking canes). Người Byzantines đã giấu bí mật giống như người Trung Quốc, tuy nhiên sau nhiều thế kỉ việc dệt và mua bán lụa tơ tằm là viêc độc quyền của giới hoàng gia (a strict imperial monopoly). Thì vào thế kỉ 7, người Ả Rập đã thôn tính (conquered) Persia và chiếm được (capturing) loại lụa tuyệt đẹp này.

Việc sản xuất lụa lan rộng khắp Châu Phi, Sicily và Tây Ban Nha khi Ả Rập thôn tính những vùng đất này.  Andalusia ở phía nam Tây Ban Nha là trung tâm chính sản xuất lụa tơ tằm của Châu Âu vào thể kỉ thứ 10. Cho đến thế kỉ thứ 13, thì Italy trở thành nước đứng đầu Châu Âu về sản xuất và xuất khẩu lụa tơ tằm. Các thương gia tại thành phố Venice đã buôn bán lụa tơ tằm một cách rộng rãi và còn giúp sức để những người trồng dâu (silk growers) định cư ở Italy. Thậm chí ngày nay, quá trình sản xuất lụa tơ tằm ở tỉnh Como phía nam Italy được coi là một thương hiệu (an esteemed reputation).

Thế kỉ 19 cùng công nghiệp hóa đã chứng kiến sự suy tàn của ngành công nghiệp lụa tơ tằm của Châu Âu (the downfall of the European silk industry). Lụa tơ tằm từ Nhật Bản rẻ hơn, thông thương trở nên thuận tiện hơn nhờ việc mở kênh đào Suez, là một trong những yếu tố chính dẫn đến xu hướng này. Rồi vào thế kỉ 20, sợi nhân tạo mới (new manmade fibres), như nylon, bắt đầu được sử dụng trong những sản phẩm mà theo truyền thống được làm từ lụa tơ tằm, ví như bít tất hay dù (stockings and parachutes). Thế chiến thứ 2, đã làm gián đoạn nguồn cung cấp nguyên liệu từ Nhật Bản, cũng đã bóp nghẹt (stifled) ngành công nghiệp lụa của Châu Âu. Sau thế chiến thứ 2, việc sản xuất lụa của Nhật Bản được khôi phục lại đi kèm với sản lượng và chất lượng của lụa thô được cải thiện. Nhật Bản đã giành lại vị trí nhà sản xuất lụa thô lớn nhất thế giới và đặc biệt chỉ xuất khẩu duy nhất lụa thô, cho tới tận những năm 1970. Tuy nhiên, trong những thập kỉ gần đây, Trung Quốc dần dần giành lại vị thế của mình (gradually recaptured its position) là nhà sản xuất và xuất khẩu lớn nhất thế giới về lụa thô và chỉ lụa. Ngày này, có khoảng 125,000 tấn lụa được sản xuất trên thế giới và khoảng hai phần ba số này được sản xuất (takes place) tại Trung Quốc.

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 3/ Passage 2-

Cuộc di cư vĩ đại

 

Sự di cư của động vật, tuy được định nghĩa là sự di chuyển của các loài động vật nhưng khái niệm này không chỉ đơn thuần như vậy. Di cư của động vật có thể được mô tả một cách dễ hiểu là những chuyến đi diễn ra thường xuyên theo chu kỳ hàng năm – có thể liên quan đến nhiều thành viên của một loài và là một phần thưởng xứng đáng sau một hành trình dài. Di cư được thừa hưởng từ bản năng di truyền. Nhà sinh vật học Hugh Dingle đã xác định năm đặc điểm áp dụng ở các mức độ và sự kết hợp khác nhau, đối với tất cả các cuộc di cư. Di cư là sự di chuyển mang tính trường kỳ (prolonged movements) của các loài động vật, đem động vật ra khỏi môi trường sống quen thuộc của chúng; thường thì động vật di chuyển theo xu hướng tuyến tính, không ngoằn ngoèo; có liên quan đến những hành vi đặc biệt như là phải có sự chuẩn bị (ví dụ ăn thật nhiều) và theo đến cùng; di cư đòi hỏi đặc biệt về phân bố năng lượng. Và một điều nữa: động vật di cư duy trì sự chú tâm cao độ đối với sứ mệnh lớn hơn, điều này giúp chúng không bị phân tán (keeps them undistracted) bởi những cám dỗ và không bị nản lòng trước những thách thức để có thể gạt các loài động vật khác sang một bên (that would turn other animals aside).

Một con nhạn Bắc cực, trên hành trình 20,000 km từ cực Nam Nam Mĩ đến vòng Bắc cực, sẽ không chú ý đến mùi thơm hấp dẫn của một con cá trích (take no notice of a nice smelly herring) toát ra từ chiếc thuyền của người quan sát chim trên đường đi (along the way).

Trong khi những con mòng biển địa phương (local gulls) xông đến (dive voraciously) nuốt chửng con cá ngay lập tức thì con nhạn vẫn tiếp tục hành trình của mình. Tại sao lại như vậy? Con nhạn Bắc cực có thể chống lại sự phân tâm (resists distraction) bởi vì tại thời điểm đó nó đang được điều khiển bởi BẢN NĂNG (an instinctive sense) – một điều mà con người chúng ta cảm thấy đáng ngưỡng mộ (admirable): vì một mục đích lớn lao hơn. Nói cách khác, con nhạn được lập trình để đạt được đích đến của nó (reach its destination). Con nhạn theo bản năng cảm giác rằng nó có thể ăn, nghỉ ngơi và giao phối sau khi hoàn thành hành trình. Vì vậy ngay vào lúc này con nhạn hoàn toàn tập trung vào chuyến đi; ý định nguyên sơ của nó (its undivided intent) là đích đến của cuộc hành trình.

Khi chạm đến một số đường bờ biển mù sương ở Bắc Cực, nơi mà những con nhạn Bắc cực khác hội tụ (converged), con nhạn sẽ vì mục đích lớn lao hơn của mình theo định hướng từ trong tiến hoá: tìm một khoảng không gian, thời gian và trong hoàn cảnh thích hợp để sinh con đẻ cái (hatch and rear offspring).

Nhưng di cư là một vấn đề phức tạp, và các nhà sinh vật học định nghĩa nó theo các cách khác nhau, điều này phụ thuộc phần nào vào loài vật mà họ nghiên cứu. Joe! Berger, thuộc đại học Montana, người nghiên cứu về linh dương Bắc Mỹ (the American pronghorn) và các động vật khổng lồ có vú trên cạn khác (large terrestrial mammals), thích cái mà anh ấy gọi là một định nghĩa đơn giản, thực tiễn phù hợp với từng loài thú (practical definition suited to his beasts): “di cư là di chuyển theo mùa từ khu vực này sang khu vực khác và trở lại” . Nói chung, lý do cho sự di chuyển đi và về theo mùa (seasonal back-and-forth movement) như vậy là tìm kiếm các nguồn lực (seek resources) không có sẵn trong phạm vi khu vực sinh sống quanh năm (within a single area year-round).

Nhưng việc di chuyển theo chiều dọc hàng ngày của sinh vật phù du (zooplankton) trong đại dương – nổi lên vào ban đêm để tìm kiếm thức ăn, và lặn xuống vào ban ngày để trốn tránh kẻ săn mồi – cũng có thể được coi là di cư. Sự di chuyển của những con rệp vừng (aphids) cũng tương tự như vậy, khi lá non trên một cây lương thực cạn kiệt (depleted), những con rệp non sẽ bay đến một cái cây khác để ăn và không có con rệp nào trở lại nơi nó xuất phát.

Dingle là một nhà nghiên cứu sinh học tiến hóa chuyên về côn trùng. Định nghĩa của ông phức tạp (intricate) hơn của Berger, trích dẫn năm đặc điểm nhằm phân biệt sự di cư với các dạng di chuyển khác. Ví dụ, những con rệp sẽ trở nên nhạy cảm (sensitive) với ánh sáng màu xanh (từ bầu trời) khi cất cánh trong hành trình lớn của chúng và nhạy cảm với ánh sáng màu vàng (phản xạ từ lá non mềm) khi thích hợp để hạ cánh. Chim sẽ vỗ béo bản thân chúng (fatten themselves) bằng cách ăn thật nhiều trước một chuyến bay di trú dài. Giá trị định nghĩa của ông Dingle cho thấy định nghĩa này tập trung chú ý vào những gì hiện tượng di cư của chim hoang dã cùng với hiện tượng rệp vừng, và do đó giúp hướng dẫn các nhà nghiên cứu hiểu rõ sự tiến hóa đã tạo ra tất cả hiện tượng này như thế nào.

Tuy nhiên hành vi của con người đang có một tác động xấu (a detrimental impact) đến sự di cư của động vật. Loài Pronghorn (linh dương có gạc nhiều nhánh), giống như linh dương (antelope) mặc dù chúng không liên quan đến nhau, là động vật có vú chạy nhanh nhất của Tân thế giới (châu Mỹ) (the fastest land mammal of the New World). Loài Pronghorn dành cả mùa hè để sinh sống ở Vườn quốc gia Grand Teton miền tây nước Mỹ, vào mùa hè, chúng đi theo một con đường hẹp từ trên núi, băng qua sông, rồi xuống vùng đồng bằng. Tại vùng đồng bằng này, chúng chờ đợi mùa đông lạnh giá trôi qua, ăn chủ yếu là cây ngải đắng trong gió tuyết (sagebrush blown clear of snow). Những con pronghorn này hết sức lưu ý con đường di chuyển cố định (invariance) của chúng và mức độ nghiêm trọng của sự co thắt (the severity of its constriction) ở ba nút cổ chai (at three bottlenecks). Nếu chúng không thể đi qua từng nút thắt trong mùa xuân, thì khi hè đến, chúng sẽ không thể kiếm đủ thức ăn; Nếu hết mùa thu mà chúng không thể vượt qua được nút thắt tiếp theo (qua sông), để chạy về phía nam xuống những vùng đồng bằng lượn sóng (escaping south onto those windblown plains), chúng có thể sẽ chết khi băng qua lúc tuyết rơi dày (to overwinter in the deep snow). Loài Pronghorn, phụ thuộc vào tầm nhìn xa và tốc độ (distance vision and speed) để giữ an toàn đối với thú săn mồi (predators), băng qua những bờ đất rộng, cao, nơi chúng có thể nhìn thấy và chạy. Tại một trong những nút thắt cổ chai, các ngọn đồi rừng cao lên để tạo thành một hình chữ V, để lại hành lang rộng mở rộng (a corridor of open ground) khoảng 150 mét, có đầy những ngôi nhà tư nhân. Sự phát triển ngày càng tăng đang dẫn tới một cuộc khủng hoảng (crisis) cho loài pronghorn, đe dọa sẽ làm tắc nghẽn lối đi của chúng (threatening to choke off their passageway).

Các nhà khoa học bảo tồn, cùng với một số nhà sinh vật học và nhà quản lý đất đai trong Dịch vụ Vườn quốc gia Hoa Kỳ và các cơ quan khác đang nỗ lực để bảo vệ các hành vi di trú (to preserve migrational behaviours), không chỉ là các loài sinh vật mà còn cả môi trường sống của chúng (not just species and habitats). Rừng Quốc gia đã công nhận con đường của pronghorn, phần lớn đi qua đất của nó, là một hành lang di cư được bảo vệ. Nhưng cả Sở Lâm Nghiệp (Forest Service)Sở Lâm Viên (Park Service) đều không thể kiểm soát những gì xảy ra trên đất tư nhân ở một điểm nút thắt cổ chai. Và với một số loài di cư khác, thách thức còn phức tạp hơn nữa – bởi những khoảng cách loài di cư đi ngang qua là rất xa, nhiều khu vực pháp lý (jurisdictions) hơn, nhiều biên giới hơn, nhiều nguy hiểm hơn trên đường đi. Chúng ta sẽ cần có sự khôn ngoan và kiên quyết (wisdom and resoluteness) để đảm bảo rằng các loài di cư có thể tiếp tục hành trình lâu hơn nữa (continue their journeying a while longer).

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 3/ Passage 3-

Lời nói đầu cho cuốn sách ‘Cách nửa thế giới suy nghĩ:
Những cuộc phiêu lưu vào luận điểm toán học ‘

 

 

 

A

Thỉnh thoảng, trong một số tác phẩm âm nhạc phức tạp, lại có những giai điệu đẹp, nhưng dễ chơi – những phần rất đơn giản cho người mới bắt đầu có thể thực hiện. Với toán học cũng vậy. Có một vài phát hiện trong toán học nâng cao (advanced mathematics) mà không phụ thuộc vào kiến ​​thức chuyên môn, thậm chí vào đại số (algebra), hình học (geometry), hoặc lượng giác (trigonometry). Thay vào đó, phần lớn có thể bao gồm một chút số học (arithmetic), chẳng hạn như ‘tổng của hai số lẻ là số chẳn’ (‘the sum of two odd numbers is even’) và kiến thức thông thường. Mỗi phần trong tám chương của cuốn sách minh hoạ cho hiện tượng này. Bất cứ ai cũng có thể hiểu từng bước để lập luận (every step in the reasoning).

Tư duy trong mỗi chương sử dụng hầu hết chỉ là số học cơ bản nhất (at most only elementary arithmetic), và đôi khi còn ít hơn. Như vậy tất cả độc giả sẽ có cơ hội tham gia vào một trải nghiệm toán học, thưởng thức vẻ đẹp của toán học, và dần trở nên quen thuộc với lối tư duy logic, nhưng trực quan (intuitive) này.

B

Một trong những mục đích của tôi trong việc viết cuốn sách này để cung cấp cho những độc giả không có cơ hội xem và tận hưởng toán học thực sự, có cơ hội thấy rõ cách suy nghĩ toán học. Tôi muốn tiết lộ không chỉ một số nghiên cứu hấp dẫn, mà quan trọng hơn là lý luận (reasoning) đằng sau chúng.

Trên phương diện đó (in that respect), cuốn sách này khác với hầu hết các sách toán học được viết cho công chúng. Một số trình bày cuộc sống của các nhà toán học đầy màu sắc. Số khác khác mô tả những ứng dụng quan trọng (important applications) của toán học. Song, số khác đi vào các quy trình toán học (mathematical procedures), nhưng chỉ dành trong trường hợp người đọc giỏi sử dụng đại số (but assume that the reader is adept in using algebra).

C

Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ giúp khắc phục phần thiếu sót hiển nhiên đó (help bridge that notorious gap), sự thiếu sót đã phân chia nền học thuật thành hai phần: Nhân văn và khoa học, hoặc tôi nên nói rằng chia bộ não thành hai phần, não phải (tri giác) và não trái (phân tích, số). Như sự minh hoạ trong các chương sách, toán học không bị giới hạn (not restricted) trong phân tích và số học; Trực giác vẫn đóng một vai trò quan trọng. Chỗ thiếu sót (alleged gap) có thể được thu hẹp hoặc hoàn toàn có thể được khắc phục (completely overcome) bởi bất kỳ ai, một phần là do mỗi chúng ta còn lâu mới sử dụng hết công suất của một trong hai bên não. Để minh họa cho tiềm năng của loài người, tôi trích dẫn một kỹ sư kết cấu đồng thời là một nghệ sĩ, một kỹ sư điện kiêm ca sĩ opera, hay một ca sĩ opera đã công bố nghiên cứu toán học và một nhà toán học xuất bản truyện ngắn.

D

Các nhà khoa học khác đã viết sách để giải thích lĩnh vực của họ cho những người không phải là nhà khoa học, nhưng nhất thiết phải bỏ qua toán học, mặc dù toán học cung cấp nền tảng cho các lý thuyết của họ. Người đọc chắc hẳn là một khán giả bị trêu đùa (remain a tantalized spectator) chứ không phải là một người tham gia đầy say mê (involved participant), vì ngôn ngữ thích hợp để mô tả chi tiết trong phần lớn các ngành khoa học lại là toán học, cho dù chủ đề có mở rộng đến vũ trụ (universe), hạt hạ nguyên tử (subatomic particles) hay nhiễm sắc thể (chromosomes). Mặc dù những điểm chính của học thuyết khoa học (broad outline of a scientific theory) có thể được phác hoạ một cách trực giác, khi một phần của vũ trụ vật chất cuối cùng được hiểu, thì phần mô tả của nó thường giống như một trang trong một văn bản toán học.

E

Tuy nhiên, người đọc không thuộc lĩnh vực toán học có thể đi xa trong việc am hiểu lý luận toán học. Cuốn sách này trình bày các chi tiết minh hoạ cho lối suy nghĩ toán học, bao gồm tính liên tục (involves sustained), phân tích từng bước một, các thí nghiệm, và sự hiểu biết sâu sắc (insights). Bạn sẽ lật những trang này chậm hơn nhiều so với khi đọc một cuốn tiểu thuyết hay một tờ báo. Có sẵn bút chì và giấy có thể giúp kiểm tra những lời tuyên bố và thực hiện các thử nghiệm.

F

Như tôi đã viết, tôi ghi nhớ hai loại độc giả: những người yêu thích toán học cho đến khi họ chán ngấy bởi một tập khó chịu (turned off by an unpleasant episode), thường ở mức độ 5, và những người cuồng nhiệt toán học (mathematics aficionados), những người sẽ tìm thấy nhiều điều mới mẻ trong cuốn sách.

Cuốn sách này cũng phục vụ những độc giả chỉ đơn giản muốn nâng cao kỹ năng phân tích (to sharpen their analytical skills). Nhiều ngành nghề, chẳng hạn như luật pháp và y học, yêu cầu phân tích rộng và chính xác (extended, precise analysis) hơn. Mỗi chương đưa ra cách thực hành theo một dòng suy nghĩ được lập luận chặt chẽ và bền vững.

G

Toán học có thể phát triển kỹ năng này được chỉ ra bởi 2 minh chứng: Một bác sĩ đã viết, sự rèn luyện các quá trình tư duy phân tích [trong toán học] đã trang bị rất tốt cho tôi trong việc học trường y. Trong y học, người ta phải đối mặt với một vấn đề cần phải được phân tích kỹ lưỡng (thoroughly analyzed) trước khi có giải pháp. Quá trình này tương tự như toán học (The process is similar to doing mathematics).

Một luật sư cũng đưa ra cùng quan điểm: “Mặc dù tôi không có nền tảng pháp luật – thậm chí là một khoá học về chính trị – tôi đã học tốt ở một trong những trường luật tốt nhất. Tôi cho rằng phần lớn thành công của tôi nhờ vào học hỏi, thông qua nghiên cứu toán học, và đặc biệt là các định lý (theorems), làm thế nào để phân tích các nguyên tắc phức tạp. ’ Các luật sư nghiên cứu toán học có thể làm chủ các nguyên tắc pháp luật (master the legal principles) theo cách mà đa số người khác không thể làm được.

” Tôi hy vọng bạn sẽ chia sẻ niềm vui của tôi khi xem những ví dụ đơn giản, thậm chí ngây thơ, những câu hỏi dẫn đến những lý giải phi thường (remarkable solutions) và những khám phá thuần lý thuyết (theoretical discoveries) tìm ra các ứng dụng đầy bất ngờ.

 

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 4/ Passage 1-

Nghiên cứu trên những cặp song sinh

 

Đối với các nhà nghiên cứu y sinh học trên khắp thế giới, những cặp song sinh cung cấp một cơ hội quý báu để khám phá (a precious opportunity to untangle) ảnh hưởng của gen và môi trường – hay nói cách khác là ảnh hưởng của bản tính tự nhiên và sự nuôi dưỡng. Bởi vì những cặp song sinh cùng trứng, một trứng được thụ tinh sau đó chia thành hai phôi, chúng chia sẻ mã di truyền gần như giống nhau. Bất kỳ sự khác biệt giữa họ – ví dụ, một người có làn da nhìn trẻ hơn, hẳn là do các yếu tố môi trường như dành ít thời gian hơn ngoài nắng.

Ngoài ra, bằng cách so sánh trải nghiệm của những cặp song sinh cùng trứng (identical twins) với những cặp song sinh khác trứng (fraternal twins) được sinh ra từ hai trứng riêng biệt, trung bình có chung một nửa kiểu gen, các nhà nghiên cứu có thể định lượng mức độ (quantify the extent) mà kiểu gen ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta. Nếu các cặp song sinh cùng trứng có sự giống nhau về bệnh tật hơn là những cặp song sinh khác trứng thì nguy cơ mắc bệnh phải phần nào bắt nguồn từ di truyền (heredity).

Hai phương pháp nghiên cứu này – nghiên cứu sự khác biệt giữa các cặp song sinh cùng trứng để xác định sự ảnh hưởng của môi trường và so sánh các cặp song sinh cùng trứng với khác trứng để đo lường vai trò của di truyền (inheritance) – là mấu chốt (crucial) để hiểu được sự tương tác (interplay) của bản năng và sự nuôi dưỡng (nature and nurture) trong việc xác định tính cách, hành vi, nguy cơ bệnh tật (vulnerability to disease).

Ý tưởng sử dụng cặp song sinh để đo lường ảnh hưởng của di truyền bắt đầu từ năm 1875, khi nhà khoa học người Anh Francis Galton lần đầu tiên đề xuất cách tiếp cận (và đưa ra (coined) cụm từ ‘bản tính và sự nuôi dưỡng’). Tuy nhiên, những nghiên cứu về song sinh đã có những thay đổi đáng ngạc nhiên trong những năm 1980, với sự xuất hiện của các nghiên cứu về những cặp đồng sinh cùng trứng, những người bị chia tách từ lúc mới sinh và đoàn tụ khi trưởng thành. Hơn hai thập niên qua, 137 cặp sinh đôi đã đến phòng thí nghiệm của Thomas Bouchard nơi được  biết đến dưới cái tên Minnesota Study of Twins Reared Apart. Nhiều bài kiểm tra đã được thực hiện trên các cặp song sinh, và họ đã được hỏi hơn 15,000 câu hỏi.

Bouchard và các đồng nghiệp của ông đã sử dụng núi dữ liệu này để xác định xem các cặp song sinh bị ảnh hưởng bởi tổ hợp gen của họ (by their 

Believed science could intervene and alter the human evolutionary process. Started with the belief that there were worthy populations and individuals and those that were not. He believed the worthy people should procreate and the unworthy be eliminated. Scientific breeding could accomplish this Galton called this process: Eugenics. Socrates and Thomas Jefferson had earlier embraced this concept.

genetic makeup) đến mức nào. Chìa khóa cho sự tiếp cận của họ là một khái niệm thống kê được gọi là tính di truyền. Xét theo nghĩa rộng (in broad terms), tính di truyền của một tính trạng xác định mức độ khác biệt giữa các thành viên trong một quần thể có thể được giải thích bởi sự khác biệt kiểu gen của chúng. Và bất cứ nơi nào Bouchard và các nhà khoa học khác xem xét, dường như họ đã tìm thấy tác động của bàn tay di truyền vô hình (the invisible hand of genetic) giúp định hình cuộc sống của chúng ta

Tuy nhiên, gần đây các nghiên cứu về song sinh đã giúp đưa các nhà khoa học đến một kết luận mới mang tính cốt yếu: rằng bản chất tự nhiên và sự nuôi dưỡng không phải những nhân tố ảnh hưởng duy nhất đang hoạt động. Theo một lĩnh vực gần đây gọi là biểu sinh học (epigenetics), có một yếu tố đóng vai trò thứ 3, một trong số đó đóng vai trò là cầu nối (serves as a bridge) giữa môi trường và gen của chúng ta, và  một số khác hoạt động theo cách của riêng chúng (operates on its own) để định hình chúng ta là ai.

Các quá trình biểu sinh học là những phản ứng hóa học không liên quan (tied to) đến tự nhiên hay nuôi dưỡng mà là những gì mà các nhà nghiên cứu gọi là “thành phần thứ ba (third component)“. Các phản ứng này ảnh hưởng đến mức độ biểu hiện của kiểu gen trong mỗi chúng ta: bằng cách nào mà một gen được tăng cường hay yếu đi, thậm chí là hoạt động hay ngưng lại, để tạo nên xương, não và tất cả các bộ phận khác trong cơ thể chúng ta.

Nếu bạn nghĩ DNA của chúng ta như một bàn phím đàn piano khổng lồ (immense) và các gen của chúng ta như chìa khóa – mỗi phím đại diện cho một đoạn DNA (symbolizing a segment of DNA) chịu trách nhiệm cho một tín hiệu cụ thể, hoặc là tính trạng (note, or trait), và tất cả các phím kết hợp tạo nên con người của chúng ta – thì các quá trình biểu sinh xác định Khi nào và làm thế nào mỗi phím có thể được đánh, thay đổi giai điệu đang được chơi.

Một cách để nghiên cứu về biểu sinh học đang cách mạng hóa (revolutionizing) sự hiểu biết của chúng ta về sinh học  bằng cách tiết lộ một cơ chế (by revealing a mechanism) mà nhờ đó môi trường tác động trực tiếp tới các gen. Ví dụ, những nghiên cứu về động vật đã chỉ ra rằng khi một con chuột trải qua những căng thẳng trong thời kỳ mang thai, nó có thể gây ra những thay đổi biểu sinh ở bào thai (fetus) dẫn đến các vấn đề hành vi khi chuột con (rodent) trưởng thành. Các quá trình biểu sinh khác xảy ra ngẫu nhiên, trong khi số khác lại hoạt động bình thường ví dụ như khi chúng dẫn dắt tế bào phôi (guide embryonic cells) để chúng hình thành tim, não bộ, hay những tế bào gan.

Nhà di truyền học (Geneticist) Danielle Reed đã làm việc với nhiều cặp song sinh trong nhiều năm và đã suy nghĩ sâu sắc về những nghiên cứu song sinh đã dạy chúng ta. “Rất rõ ràng khi bạn nhìn vào các cặp song sinh rằng phần lớn những gì họ chia sẻ đều được kết nối chặt chẽ với nhau”, cô nói. “Nhiều thứ về họ là hoàn toàn giống nhau và không thể thay đổi. Nhưng nó cũng rõ ràng, khi bạn hiểu họ, ở họ vẫn có những thứ khác nhau. Theo quan điểm của tôi, biểu sinh là nguồn gốc của rất nhiều sự khác biệt đó.”

Reed tin rằng công trình của Bouchard đã làm dấy lên (surge) những nghiên cứu về song sinh ngày nay. “Ông ấy là người tiên phong,” cô nói. “Chúng ta quên rằng 50 năm trước những thứ như bệnh tim được cho là gây ra hoàn toàn bởi lối sống. Bệnh tâm thần phân liệt (Schizophrenia) được cho là do nuôi dưỡng tệ bạc. Các nghiên cứu song sinh đã cho phép chúng ta suy nghĩ nhiều hơn về điều gì là sẵn có từ khi sinh ra và điều gì là được tạo nên bởi kinh nghiệm.

Reed cho biết thêm, công trình mới nhất hiện nay về biểu sinh hứa hẹn đưa sự hiểu biết của chúng ta đi xa hơn nữa (promises to take our understanding even further). “Điều tôi muốn nói là tự nhiên viết nên một số thứ bằng bút chì và một số thì bằng bút mực”, cô nói. Những điều viết bằng bút mực bạn không thể thay đổi. Đó là DNA. Những thứ được viết bằng bút chì thì bạn có thể thay đổi. Đó là biểu sinh. Bây giờ chúng ta thực sự có thể nhìn vào DNA và xem những nét vẽ của bút chì nằm ở đâu, đó là một kiểu thế giới hoàn toàn mới.

 

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 4/ Passage 2-

Đưa âm thanh vào điện ảnh (Lồng tiếng)

 

Tuy chúng ta thường cho rằng hình ảnh đóng vai trò trọng yếu trong phim nhưng ta cũng không thể đánh giá thấp giá trị của âm thanh trong phim. Một âm thanh nền đầy hàm ý cũng phức tạp như hình ảnh xuất hiện trên màn hình và cũng quan trọng như vai trò của đạo diễn. Toàn bộ âm thanh nền gồm ba yếu tố chính: giọng nói con người, hiệu ứng âm thanh và âm nhạc. Ba phần này phải được phối và cân chỉnh sao cho tạo ra những nhấn nhá cần thiết để đạt được hiệu quả mong muốn. Các chủ đề về ba yếu tố cơ bản đề cập ở trên sẽ được phân tích tiếp sau đây. Chủ đề bao gồm hội thoại (dialogue), hiệu ứng âm thanh đồng bộ và không đồng bộ (synchronous and asynchronous), và âm nhạc.

Đầu tiên là hội thoại. Trong một đoạn kịch diễn trên sân khấu, hội thoại là kể lại câu chuyện và diễn đạt tâm tư tình cảm của nhân vật. Thông thường trong phim, khán giả nhận thấy tính cách của nhân vật và diễn viễn không khác nhau là mấy. Vì thế, ví dụ như diễn viên Humphrey Bogart đóng vai Dam Spade; thì tính cách của nhân vật và tính cách ngoài đời của nam diễn viên gần như hòa nhập vào nhau. Có lẽ điều này là do chính sự trầm bổng trong giọng nói của nghệ sĩ biểu diễn tạo nên một nét đặc trưng (the very texture of a performer’s voice supplies an element of character).

Khi giọng nói trầm bổng khớp với diện mạo và cử chỉ của diễn viên thì toàn bộ tính cách nhân vật cũng sẽ lồng ghép vào rất sinh động. Khán giả không chỉ xem một diễn viên đang đóng mà còn chứng kiến một con người khác đang đấu tranh với cuộc sống. Cũng rất thú vị khi nhận thấy cách đối thoại và

lượng lời thoại biến đổi đa dạng trong phim. Ví dụ như trong một bộ phim khoa học viễn tưởng rất thành công tên 2001, có rất ít lời thoại, và hầu như mọi lời thoại đều sáo rỗng (banal)thiếu lôi cuốn (little intrinsic interest). Theo đó, nhà sản xuất phim có thể khắc họa (portray) điều mà Thomas Sobochack và Vivian Sobochack viết trong cuốn Nhập Môn Điện Ảnh (An Introduction to Film) , là “sự khập khiễng (inadequacy) trong phản ứng của con người khi so sánh giữa công nghệ tuyệt vời do con người tạo ra (the magnificent technology created by man) với vẻ đẹp của vũ trụ (visual beauties of the universe)“.

“Tuy nhiên, bộ phim hài Dạy dỗ trẻ con (Bringing Up Baby) lại chứa các đoạn hội thoại liên tiếp (practically non-stop dialogue) được trình bày với tốc độ chóng mặt (delivered at breakneck speed).

Việc dùng những lời thoại này không chỉ nhấn mạnh sự ngớ ngẩn trong tính cách nhân vật do Katherine Hepburn đóng mà còn tạo ra sự ngây ngô (absurdity) cho bộ phim, nhờ đó gây ra tiếng cười. Khán giả bất ngờ (bounced) từ trò khôi hài (gag) đến trò khôi hài khác, từ đoạn thoại này đến đoạn thoại khác; họ không có thời gian suy nghĩ. Khán giả bị ngắt mạch suy nghĩ trong một loạt những hành động (in a whirlwind of activity) chỉ để cố theo kịp cảnh phim. Bộ phim này đơn thuần mô tả khuynh hướng thoát ly thuần túy (pure escapism) – chủ yếu dựa vào các đoạn thoại liên tiếp.

Hiệu ứng âm thanh đồng bộ là những âm thanh được đồng bộ hóa hay phù hợp với hình ảnh trình chiếu. Thí dụ nếu bộ phim minh họa một nhân vật đang chơi đàn dương cầm, tiếng đàn được lồng vào (projected). Âm thanh đồng bộ góp phần hiện thực hóa bộ phim (the realism of film), đồng thời cũng giúp tạo ra bầu không khí đặc thù (a particular atmosphere). Như tiếng “click” của một cánh cửa được mở làm khán giả tin rằng hình ảnh trên màn hình là thật, và trong tiềm thức khán giả có thể chỉ chú ý đến âm thanh họ mong được nghe thấy. Song nếu tiếng “click” mở cửa báo hiệu hành động như trộm vào nhà, thì để thu hút sự chú ý, âm thanh “click” được trộn với cường độ âm lượng tăng dần; điều này nhằm tạo ra những giây phút hồi hộp (suspense) cho khán giả.

Ngược lại là hiệu ứng âm thanh không đồng bộ không đồng nhất với âm thanh có trên phim. Những âm thanh này được lồng ghép nhằm tạo ra sắc thái cảm xúc phù hợp (so as to provide an appropriate emotional nuance) và có thể giúp hiện thực hóa bộ phim. Như việc một nhà sản xuất phim có thể chọn lồng (include) tiếng còi xe cứu thương làm âm thanh nền khi chiếu hình ảnh và âm thanh cận cảnh một cặp đôi đang cãi vã. Tiếng còi cứu thương không đồng bộ (asynchronous ambulance siren) nhấn mạnh mức độ tổn thương tinh thần trong cuộc tranh cãi; đồng thời tiếng ồn từ còi báo xuất hiện trong bối cảnh đoạn phim ở thành phố làm tăng tính hiện thực trong phim.

Có thể chúng ta ai cũng qua quen với nhạc nền trong phim, thứ âm nhạc xuất hiện thường xuyên (ubiquitous) đến nỗi thật đáng bận tâm khi thiếu vắng chúng trong phim. Chúng ta đều biết rằng nhạc phim giúp thêm cảm xúc và nhịp điệu cho bộ phim. Nhưng hiếm ai chú ý rằng nhạc nền thường mang thanh điệu và thái độ cảm xúc của câu chuyện và/hoặc của nhân vật. Hơn nữa, nhạc nền thường báo hiệu (foreshadows) sự chuyển đổi tâm trạng. Ví dụ như tiếng nhạc thiếu ổn định sử dụng trong phim để biểu thị mối đe dọa hoặc thảm họa (menace or disaster) đang đến gần (nhưng chưa thể nhìn thấy).

Nhạc nền cùng cảnh phim có liên quan có thể hỗ trợ nhận thức của khán giả (aid viewer understanding).  Ví dụ, một chủ đề âm nhạc cụ thể nào đó có liên hệ với một nhân vật hoặc tình huống riêng biệt có thể được lặp đi lặp lại tại nhiều thời điểm trong phim để khơi gợi thính giả nhớ đến những mô-típ hoặc ý tưởng nổi bật.

Nhạc phim chứa đựng (comprises) những quy tắc và sự đổi mới. Ta đã mong đợi tiếng nhạc dồn dập trong những màn rượt đuổi bằng xe hơi và tiếng cửa nghiến kẽo kẹt (creaky doors) trong phim kinh dị. Thế nhưng, cũng cần chú ý rằng âm thanh thường được nhận định rõ ràng. Các hiệu ứng âm thanh thường rất tinh tế và chỉ có tiềm thức của ta (only our subconscious minds) mới phát hiện được. Chúng ta cần nâng cao nhận thức về âm thanh trong phim cũng như không gian của phim nhằm đánh giá chính xác hình thức nghệ thuật đã xuất hiện trong đời sống trong suốt thế kỷ 20 – kỷ nguyên của phim hiện đại.

 

 

 

 

-Theo Cambridge 11/ Test 4/ Passage 3-

‘This Marvellous Invention’

Một phát minh kỳ diệu

A

Trong tất cả những phát minh choáng ngợp của nhân loại (mankind’s manifold creations) thì ngôn ngữ chiếm một vị trí đáng nể. Các phát minh khác như bánh xe, nông nghiệp, bánh mì xắt lát có thể đã làm biến chuyển những vật liệu hiện có của chúng ta, nhưng sự ra đời của ngôn ngữ là thứ khiến chúng ta trở thành con người. So với ngôn ngữ thì mọi phát minh khác đều cực kỳ lu mờ (pale in significance), vì mọi thứ mà con người chúng ta đạt được đều dựa vào ngôn ngữ và bắt nguồn từ ngôn ngữ. Thiếu nó, ta sẽ không bao giờ chạm đến (embarked) sức mạnh vô song (unparalleled power) vượt lên mọi loài động vật khác, thậm chí còn vượt qua cả bản thân tự nhiên nữa.

B

Song vị trí dẫn đầu của ngôn ngữ không chỉ vì chúng xuất hiện trước tiên. Ngôn ngữ tự thân nó đã là một công cụ tinh tế phi thường, dù dựa trên một ý tưởng đơn giản tài tình: “Phát minh kỳ diệu kết hợp 25 đến 30 loại âm thanh để tạo ra vô số cách biểu đạt không giống chút nào so với những gì mà chúng ta đang nghĩ này đã cho phép ta tiết lộ toàn bộ bí mật với người khác, và truyền đạt mọi điều ta tưởng tượng hay những thứ khuấy đảo tâm hồn ta với những người không thể hiểu chúng. ” Đó là lời mà vào năm 1660, những nhà ngữ pháp học nổi tiếng người Pháp thuộc tu viện Cảng Hoàng gia, gần Versailles đã rút ra được về cốt lõi của ngôn ngữ, và tới tận nay không có ai tán dương thành tựu của ngôn ngữ thuyết phục hơn lời đó. Tuy thế, có một sai sót trong những lời tán tụng này, đó là lòng tôn kính thành tựu độc đáo của ngôn ngữ đã che dấu một điều đơn giản nhưng được xem là phi lý. Ngôn ngữ là phát minh vĩ đại nhất của nhân loại – tuy nhiên, nó không phải được phát minh ra. Nghịch lý hiển nhiên này là tâm điểm của niềm đam mê ngôn ngữ của chúng ta, và ẩn chứa trong đó muôn vàn bí mật.

But language is foremost not just because it came first. In its own right it is a tool of extraordinary sophistication, yet based on an idea of ingenious simplicity: ‘this marvellous invention of composing out of twenty-five or thirty sounds that infinite variety of expressions which, whilst having in themselves no likeness to what is in our mind, allow us to disclose to others its whole secret, and to make known to those who cannot penetrate it all that we imagine, and all the various stirrings of our soul’ This was how, in 1660, the renowned French grammarians of the Port-Royal abbey near Versailles distilled the essence of language, and no one since has celebrated more eloquently the magnitude of its achievement. Even so, there is just one flaw in all these hymns of praise, for the homage to languages unique accomplishment conceals a simple yet critical incongruity. Language is mankind s greatest invention – except, of course, that it was never invented. This apparent paradox is at the core of our fascination with language, and it holds many of its secrets.

C

Ngôn ngữ thường có vẻ được phác thảo điêu luyện đến nỗi người ta khó lòng tưởng tượng được rằng chúng không phải là một công trình hoàn hảo của một nghệ nhân bậc thầy.  Làm thế nào mà công cụ này có thể được việc hơn nhiều dù chỉ đơn thuần bắt nguồn từ vài ba mẩu âm thanh vụn vặt? Tự bản thân ngôn ngữ, những kết cấu của miệng gồm p, f, b, v, t, d, k, g, sh, a, e vân vân chẳng hơn gì những tiếng húng hắng và khục khặc lung tung, những âm thanh ngẫu nhiên vô nghĩa, không thể mô tả, không thể giải thích. Nhưng khi đi qua bánh răng và guồng quay của bộ máy ngôn ngữ, chúng lại được sắp xếp theo những thứ tự rất đặc biệt, và không có gì mà những dòng khí vô nghĩa này lại không làm được: từ thở dài chán ngán vô cùng sự tồn tại đến tháo gỡ trật tự cơ bản của vũ trụ.

Language often seems so skillfully drafted that one can hardly imagine it as anything other than the perfected handiwork of a master craftsman. How else could this instrument make so much out of barely three dozen measly morsels of sound? In themselves, these configurations of mouth p,f,b,v,t,d,k,g,sh,a,e and so on – amount to nothing more than a few haphazard spits and splutters, random noises with no meaning, no ability to express, no power to explain. But run them through the cogs and wheels of the language machine, let it arrange them in some very special orders, and there is nothing that these meaningless streams of air cannot do: from sighing the interminable boredom of existence to unravelling the fundamental order of the universe.

D

 

Nhưng điều kỳ diệu nhất về ngôn ngữ lại là người ta không cần phải là thiên tài mới vận hành được bánh xe ngôn ngữ. Bộ máy ngôn ngữ cho phép gần như mọi người – từ những người cắt cỏ cổ đại trên những thảo nguyên cận nhiệt đới, đến những nhà triết học chống hiện đại trong những khu ổ chuột ngoại ô – kết nối những âm thanh vô nghĩa này với nhau thành vô vàn ý nghĩa tinh vi, và rõ ràng là không cần phải đổ một giọt mồ hôi. Tuy nhiên chính sự dễ dãi lừa lọc này đã biến ngôn ngữ thành một nạn nhân của chính thành công của nó, do trong đời sống thường nhật, chiến tích của ngôn ngữ thường được cho là tự nhiên mà có. Bánh xe ngôn ngữ lăn quá êm làm người ta hiếm khi bận tâm đến việc dừng lại và suy ngẫm về mọi công sức và sự thành thạo đã phải bỏ ra để vận hành ngôn ngữ. Ngôn ngữ ẩn chứa nghệ thuật.

The most extraordinary thing about language, however, is that one doesn’t have to be a genius to set its wheels in motion. The language machine allows just about everybody from pre-modern foragers in the subtropical savannah, to post-modern philosophers in the suburban sprawl – to tie these meaningless sounds together into an infinite variety of subtle senses, and all apparently without the slightest exertion. Yet it is precisely this deceptive ease which makes language a victim of its own success, since in everyday life its triumphs are usually taken for granted. The wheels of language run so smoothly that one rarely bothers to stop and think about all the resourcefulness and expertise that must have gone into making it tick. Language conceals art.

E

Thường thì chỉ có sự khác biệt của ngôn ngữ ngoại quốc, với những đặc trưng khác lạ và kỳ dị, đã mang đến kỳ quan về sự sáng tạo ngôn ngữ.  Một trong những trò lố nhất mà vài ngôn ngữ có thể lộ ra là khả năng tạo từ với tốc độ nghẹt thở, và vì thế tiếng Anh cần cả câu mới mô tả được một từ. Như trường hợp một từ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ sehirlilistiremediklerimizdensiniz có nghĩa “bạn là một trong những người chúng tôi không thể thay đổi thành cư dân thị trấn. (trong trường hợp bạn đang thắc mắc, thì từ kỳ quái này lại thực chất chỉ là một từ, không phải một tập hợp từ khác nhau – hầu như mọi thành phần trong từ này không thể đứng riêng lẻ).

Often, it is only the estrangement of foreign tongues, with their many exotic and outlandish features, that brings home the wonder of languages design. One of the showiest stunts that some languages can pull off is an ability to build up words of breath-breaking length, and thus express in one word what English takes a whole sentence to say. The Turkish word çehirliliçtiremediklerimizdensiniz, to take one example, means nothing less than ‘you are one of those whom we can’t turn into a town-dweller’. (In case you were wondering, this monstrosity really is one word, not merely many different words squashed together – most ol its components cannot even stand up on their own.)

F

Và nếu điều đó có vẻ dị hợm thì với trường hợp của Sumerian, ngôn ngữ được những người phát minh ra chữ viết – giúp tạo ra những tài liệu lịch sử – đã sử dụng trong các ngân hàng dọc sông Euphrates khoảng 5000 năm trước. Một từ Sumerian là munintuma’a (Khi anh đã khiến nó phù hợp với cô ấy) có vẻ là một dạng rút gọn của cụm từ Thổ Nhĩ Kỳ ở trên. Song điều ấn tượng về từ này không phải là độ dài của nó mà ngược lại – là sự chặt chẽ trong cấu trúc của nó. Từ này gồm nhiều phần khác nhau, mỗi phần từ tương ứng với một phần nghĩa cụ thể. Thiết kế trơn tru này cho phép những âm thanh đơn lẻ truyền tải thông thích hữu ích, và thực tế ngay cả khi việc thiếu mất một âm thanh cũng diễn tả được điều gì đó riêng biệt. Nếu bạn phải hỏi đơn vị từ Sumerian nào tương ứng với đại từ “nó” trong câu dịch sang tiếng Anh “Khi anh đã khiến nó phù hợp với cô ấy”, thì câu trả lời có thể là không có gì. Bạn phải lưu ý là, đó là một cái không rất cụ thể: không có gì đứng ở phần trống ở giữa câu hết. Kỹ thuật này tối ưu tới mức ngay cả một từ vô thanh, khi được cẩn thận đặt vào một vị trí rõ ràng, cũng được giao một chức năng cụ thể. Ai có thể tạo ra một bộ máy hữu hiệu như vậy chứ?

And if that sounds like some one-off freak, then consider Sumerian, the language spoken on the banks of the Euphrates some 5,000 years ago by the people who invented writing and thus enabled the documentation of history. A Sumerian word like munintuma’a (‘when he had made it suitable for her’) might seem rather trim compared to the Turkish colossus above. What is so impressive about it, however, is not its lengthiness but rather the reverse – the thrifty compactness of its construction. The word is made up of different slots, each corresponding to a particular portion of meaning. This sleek design allows single sounds to convey useful information, and in fact even the absence of a sound has been enlisted to express something specific. If you were to ask which bit in the Sumerian word corresponds to the pronoun ‘it’ in the English translation ‘when he had made it suitable for her’, then the answer would have to be nothing. Mind you, a very particular kind of nothing: the nothing that stands in the empty slot in the middle. The technology is so fine-tuned then that even a non-sound, when carefully placed in a particular position, has been invested with a specific function. Who could possibly have come up with such a nifty contraption?

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *