Recent Posts

IELTS – 13

-Theo Cambridge 13/ Test 1/ Passage 1-

Nghiên cứu tình huống: Trang web du lịch New Zealand

 

New Zealand là một đất nước nhỏ với 4 triệu dân, là một chặng bay dài (a long-haul flight) từ tất cả các thị trường tạo ra khách du lịch lớn trên thế giới. Du lịch hiện chiếm 9% tổng sản phẩm quốc nội của đất nước (the country’s gross domestic product) và là lĩnh vực xuất khẩu lớn nhất của đất nước. Không giống như các lĩnh vực xuất khẩu khác, tức là tạo ra sản phẩm rồi sau đó bán ra nước ngoài, du lịch đưa khách hàng của mình đến New Zealand.

Sản phẩm là chính đất nước – con người, địa điểm và trải nghiệm. Năm 1999, Tourism New Zealand đã phát động một chiến dịch truyền thông vị thế thương hiệu mới ra thế giới. Chiến dịch tập trung vào danh lam thắng cảnh của New Zealand, các hoạt động ngoài trời sôi nổi (exhilarating outdoor activities) và nền văn hóa Maori nguyên thủy, đồng thời đưa New

Zealand trở thành một trong những thương hiệu quốc gia mạnh nhất trên thế giới.

Một tính năng chính của chiến dịch này là trang web www.newzealand.com, cung cấp cho du khách tiềm năng đến thăm New Zealand mọi thông tin về các dịch vụ mà điểm đến du lịch sẽ phục vụ thông qua một trang mạng duy nhất. Trung tâm của trang web là một cơ sở dữ liệu về các nhà điều hành dịch vụ du lịch cung cấp dịch vụ du lịch cho đất nước, bao gồm những công ty có trụ sở tại New Zealand và những công ty có trụ sở ở nước ngoài. Bất kỳ doanh nghiệp làm du lịch cũng có thể được liệt kê trên trang web bằng cách điền vào một biểu mẫu đơn giản. Điều này có nghĩa là ngay cả địa chỉ nhà nghỉ nhỏ nhất, nơi chỉ phục vụ bữa sáng hoặc nhà cung cấp hoạt động chuyên môn cũng có thể có được sự hiện diện trên web với khả năng tiếp cận đối tượng là khách truy cập đường dài. Ngoài ra, do các doanh nghiệp tham gia có thể cập nhật thông tin chi tiết mà họ đưa ra một cách thường xuyên nên thông tin được cung cấp luôn chính xác. Và để duy trì và cải thiện các tiêu chuẩn, Tourism New Zealand đã tổ chức một chương trình theo đó (whereby) các tổ chức xuất hiện trên trang web phải trải qua một cuộc đánh giá độc lập dựa trên một bộ tiêu chuẩn quốc gia đã thống nhất về chất lượng. Một phần của chương trình này, như là tác động của mỗi doanh nghiệp đối với môi trường cũng đã được xem xét.

Để truyền đạt trải nghiệm New Zealand, trang web cũng mang các tính năng liên quan đến những con người nổi trội và các địa điểm nổi tiếng. Một trong những bài phỏng vấn nổi tiếng nhất là cuộc phỏng vấn với cựu đội trưởng đội bóng bầu dục New Zealand All Blacks Tana Umaga. Một tính năng khác thu hút nhiều sự chú ý là một cuộc hành trình tương tác (an interactive journey) thông qua vô số địa điểm phong cảnh tuyệt đẹp của New Zealand, những nơi được chọn làm bối cảnh cho các bộ phim bom tấn. Khi trang web phát triển, các tính năng bổ sung đã được thêm vào để giúp những khách du lịch độc lập lập hành trình của riêng họ. Để dễ dàng lên kế hoạch cho các ngày lễ lái xe, trang web đã lập danh mục các tuyến đường lái xe phổ biến nhất trong nước, làm nổi bật các tuyến đường khác nhau theo mùa, cũng như thể hiện khoảng cách và thời gian di chuyển.

Sau đó, tính năng Travel Planner đã được thêm vào, cho phép khách truy cập nhấp và ‘đánh dấu’ các địa điểm hoặc điểm tham quan mà họ quan tâm, sau đó xem kết quả trên bản đồ. Travel Planner đưa ra các tuyến đường được đề xuất và các lựa chọn giao thông công cộng giữa các địa điểm đã chọn. Cũng có liên kết đến chỗ ở trong khu vực địa điểm được chọn. Bằng cách đăng ký với trang web, người dùng có thể lưu Travel Plan của mình và quay lại vào lúc khác hoặc in ra để thực hiện hóa chuyến du lịch. Trang web cũng có phần ‘Your Words’, nơi bất kỳ ai cũng có thể cung cấp một bài viết về chuyến du lịch New Zealand của họ vào trang web. (anyone could submit a blog of their New Zealand travels for possible inclusion on the website.)

Trang web Du lịch New Zealand đã giành được hai giải thưởng Webby cho thành tích trực tuyến và đổi mới. Có lẽ quan trọng hơn là sự tăng trưởng của những chuyến du lịch đến New Zealand rất ấn tượng. Chi tiêu du lịch tổng thể (Overall tourism expenditure) tăng trung bình 6,9% mỗi năm từ năm 1999 đến năm 2004. Từ Anh, các chuyến thăm đến New Zealand đã tăng với tốc độ trung bình hàng năm là 13% từ năm 2002 đến năm 2006, so với tỷ lệ 4% nói chung cho các chuyến du lịch của người Anh ra nước ngoài .

Trang web được thành lập để cho phép cả cá nhân và tổ chức du lịch tạo ra những hành trình và gói du lịch phù hợp với nhu cầu và sở thích của riêng họ. Trên trang web, khách truy cập có thể tìm kiếm các hoạt động không chỉ theo vị trí địa lý mà còn theo tính chất cụ thể của hoạt động. Điều này rất quan trọng vì nghiên cứu chỉ ra rằng các hoạt động tại địa điểm du lịch là động lực chính của sự hài lòng của du khách, đóng góp 74% vào sự hài lòng của du khách, trong khi phương tiện đi lại và nơi lưu trú chiếm 26% còn lại. Du khách càng thực hiện nhiều hoạt động thì họ càng hài lòng. Người ta cũng nhận thấy rằng du khách thích các hoạt động văn hóa nhất khi họ tương tác, chẳng hạn như đến thăm marae (một sân gặp gỡ) để tìm hiểu về cuộc sống truyền thống của người Maori. Nhiều khách du lịch đường dài tận hưởng những trải nghiệm học tập như vậy, điều này cung cấp cho họ những câu chuyện để kể cho bạn bè và gia đình của họ khi về nhà. Ngoài ra, có vẻ như du khách đến với New Zealand không muốn trở thành ‘một trong những đám đông’ mà tìm đến những hoạt động du lịch chỉ liên quan đến một số người đặc biệt và ý nghĩa.

Có thể lập luận rằng New Zealand không phải là một điểm đến điển hình (a typical destination). New Zealand là một quốc gia nhỏ với nền kinh tế du khách chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ. Nó thường được coi là một quốc gia an toàn nói tiếng Anh với cơ sở hạ tầng giao thông đáng tin cậy (a reliable transport infrastructure). Bởi vì đây là chuyến bay đường dài, nên hầu hết du khách ở lại lâu hơn (trung bình 20 ngày) và muốn xem đất nước càng nhiều càng tốt,  thường được xem là chuyến thăm duy nhất một lần trong đời. Tuy nhiên, các bài học cơ bản có thể áp dụng ở bất cứ đâu – hiệu quả của một thương hiệu mạnh, chiến lược dựa trên những trải nghiệm độc đáo và một trang web toàn diện và thân thiện với người dùng (a comprehensive and user-friendly website).

 

 

-Theo Cambridge 13 /Test 1/ Passage 2-

Tại sao buồn chán lại kích thích – và cũng hữu ích

 

Cảm xúc phổ biến nhất này hóa ra lại thú vị hơn chúng ta tưởng

A

Tất cả chúng ta đều biết cảm giác nhàm chán là như thế nào – thật không thể để tâm vào bất cứ điều gì, thời gian cứ kéo dài ra và tất cả những điều bạn làm dường như không thể giúp bạn cảm thấy tốt hơn. Nhưng việc định nghĩa sự nhàm chán để có thể được nghiên cứu được nó trong phòng thí nghiệm thì thực rất khó khăn. Để bắt đầu, thì nó có thể bao gồm rất nhiều trạng thái tinh thần khác, chẳng hạn như sự thất vọng (frustration), thờ ơ (apathy), trầm cảm (depression)lãnh đạm (indifference).

Thậm chí không có sự thống nhất về việc liệu cảm giác buồn chán luôn là một loại cảm xúc phẳng lặng (flat ), ít năng lượng (low-energy) hay cảm giác kích động (agitated)bồn chồn (restless) cũng được coi là buồn chán. Trong cuốn sách của mình, Boredom: A Lively History, Peter Toohey tại Đại học Calgary, Canada, so sánh nó với sự ghê tởm (disgust) – một cảm xúc thúc đẩy chúng ta tránh xa những tình huống nhất định (stay away from certain situations). “Nếu sự ghê tởm bảo vệ con người khỏi sự lây nhiễm, thì sự buồn chán có thể bảo vệ họ khỏi những tình huống “lây nhiễm” xã hội,” ông gợi ý.

B

Bằng cách hỏi mọi người về trải nghiệm buồn chán của họ, Thomas Goetz và nhóm của ông tại Đại học Konstanz ở Đức gần đây đã xác định được 5 kiểu riêng biệt (identified five distinct types): lãnh đạm (indifferent), cân chỉnh (calibrating), tìm kiếm (searching), phản ứng (reactant)thờ ơ (apathetic). Chúng có thể được vẽ trên hai trục – một trục chạy từ trái sang phải, đo mức độ kích thích từ thấp đến cao (measures low to high arousal), và trục còn lại từ trên xuống dưới, đo mức độ tích cực hay tiêu cực của cảm giác. Thật thú vị (Intriguingly), Goetz đã phát hiện ra rằng trong khi mọi người trải qua tất cả các loại cảm giác buồn chán, họ có xu hướng chuyên về một thứ. Trong số năm loại, tai hại nhất là cảm giác buồn chán ‘phản ứng’ (‘reactant’ boredom) với sự kết hợp bùng nổ của cảm xúc kích thích cao và cảm xúc tiêu cực. Điều hữu ích nhất mà Goetz gọi là sự buồn chán ‘lãnh đạm’ (‘indifferent’ boredom): ai đó không tham gia vào bất cứ điều gì thỏa mãn nhưng vẫn cảm thấy thư thái và bình tĩnh. Tuy nhiên, vẫn còn phải xem liệu có bất kỳ đặc điểm tính cách nào dự đoán loại cảm giác buồn chán mà mỗi chúng ta có thể mắc phải hay không (might be prone to).

C

Nhà tâm lý học (Psychologist) Sandi Mann tại Đại học Central Lancashire, Vương quốc Anh, còn đi xa hơn. Cô nói: “Mọi cảm xúc đều có lý do, bao gồm cả sự buồn chán. Mann nhận thấy rằng cảm thấy buồn chán khiến chúng ta sáng tạo hơn. Cô nói: “Tất cả chúng ta đều sợ buồn chán nhưng trên thực tế, điều đó có thể dẫn đến tất cả những điều tuyệt vời. Trong thí nghiệm được công bố năm ngoái, Mann phát hiện ra rằng những người cảm thấy buồn chán khi sao chép các số ra khỏi danh bạ điện thoại trong 15 phút đã nảy ra nhiều ý tưởng sáng tạo hơn về cách sử dụng cốc polystyrene so với nhóm đối chứng. Mann kết luận rằng một hoạt động thụ động, nhàm chán (a passive, boring activity) là tốt nhất cho sự sáng tạo vì nó cho phép tâm trí đi lang thang (wander). Trên thực tế, cô ấy đi xa đến mức gợi ý rằng chúng ta nên tìm kiếm sự nhàm chán hơn trong cuộc sống của mình.

D

Nhà tâm lý học John Eastwood tại Đại học York ở Toronto, Canada, thì lại không bị thuyết phục. “Nếu bạn ở trong trạng thái tâm trí lang thang, bạn sẽ không cảm thấy buồn chán”, anh ấy nói. “Theo quan điểm của tôi, theo định nghĩa, buồn chán là một trạng thái không mong muốn (undesirable state).” Điều đó không nhất thiết có nghĩa là nó không thích ứng, ông nói thêm. ‘Đau là thích ứng – nếu chúng ta không bị đau về thể xác, những điều tồi tệ sẽ xảy ra với chúng ta. Điều đó có nghĩa là chúng ta nên chủ động gây ra sự đau đớn sao? Không. Nhưng ngay cả khi sự buồn chán đã phát triển để giúp chúng ta tồn tại, nó vẫn có thể độc hại nếu được để cho mưng mủ (fester)“. Đối với Eastwood, đặc điểm trung tâm của sự buồn chán là việc không đưa được ‘hệ thống chú ý’ (‘attention system’) vào guồng quay (gear). Điều này gây ra tình trạng không thể tập trung vào bất cứ việc gì, khiến thời gian dường như trôi đi một cách đau đớn chậm chạp. Hơn nữa, những nỗ lực của bạn để cải thiện tình hình có thể khiến bạn cảm thấy tồi tệ hơn. “Mọi người cố gắng kết nối với thế giới và nếu họ không thành công thì đó là sự thất vọng (frustration)cáu kỉnh (irritability)“, anh nói. Eastwood nói, có lẽ đáng lo ngại nhất (most worryingly) là việc liên tục không thu hút được sự chú ý có thể dẫn đến trạng thái chúng ta không biết phải làm gì nữa và không còn quan tâm nữa (and no longer care).

E

Nhóm của Eastwood hiện đang cố gắng tìm hiểu lý do tại sao hệ thống chú ý bị lỗi. Đó là những ngày đầu nhưng họ nghĩ rằng ít nhất một số điều liên quan đến tính cách (comes down to personality). Dễ bị buồn chán (Boredom proneness) có liên quan đến nhiều đặc điểm khác nhau. Những người được thúc đẩy bởi niềm vui dường như bị tổn thương đặc biệt nghiêm trọng. Các đặc điểm tính cách khác, chẳng hạn như tò mò (curiosity), có liên quan đến ngưỡng buồn chán cao (high boredom threshold). Nhiều bằng chứng cho thấy sự buồn chán có tác động tiêu cực đến từ các bài nghiên cứu về những người ít nhiều có xu hướng buồn chán. Có vẻ như những người buồn chán dễ đối mặt với triển vọng kém trong học vấn, sự nghiệp và thậm chí là cuộc sống nói chung hơn những người khác. Nhưng tất nhiên, bản thân sự buồn chán không thể giết chết con người- chính những điều chúng ta làm để giải quyết nó có thể khiến chúng ta gặp nguy hiểm. Chúng ta có thể làm gì để làm giảm (alleviate) sự buồn chán trước khi nó xảy ra? Nhóm của Goetz có một đề xuất. Khi làm việc với thanh thiếu niên, họ phát hiện ra rằng những người ‘tiếp cận’ một tình huống nhàm chán – nói cách khác, họ cảm thấy nhàm chán và bị mắc kẹt lại trong nó – cho thấy rằng những người này ít buồn chán hơn những người cố gắng tránh nó bằng cách sử dụng đồ ăn nhẹ, TV hoặc mạng xã hội để làm mất tập trung

F

Nhà tâm lý học Francoise Wemelsfelder suy đoán (speculates) rằng lối sống quá kết nối của chúng ta (our over-connected lifestyles) thậm chí có thể là nguồn gốc mới của sự nhàm chán. Cô nói: “Trong xã hội con người hiện đại, có rất nhiều sự kích thích quá mức (overstimulation) nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề trong việc tìm kiếm ý nghĩa. Vì vậy, thay vì tìm kiếm sự kích thích tinh thần hơn nữa, có lẽ chúng ta nên để điện thoại xuống và sử dụng sự buồn chán để thúc đẩy chúng ta tham gia vào thế giới (engage with the world) theo cách có ý nghĩa hơn.

 

 

 

 

-Theo Cambridge 13 /Test 1/ Passage 3-

Nghệ sĩ nhân tạo?
Máy tính thực sự có thể tạo ra các tác phẩm nghệ thuật?

 

The Painting Fool là một trong số các chương trình máy tính ngày càng phát triển, vì vậy các nhà sản xuất của chúng khẳng định rằng, máy tính cũng sở hữu tài năng sáng tạo. Nhạc cổ điển của một nhà soạn nhạc nhân tạo đã khiến khán giả mê mẩn (enraptured), thậm chí còn lừa họ tin rằng có người đứng sau bản nhạc. Các tác phẩm nghệ thuật do robot vẽ đã được bán với giá hàng nghìn đô la và được treo trong các phòng trưng bày danh giá (prestigious galleries). Và phần mềm đã được xây dựng tạo ra những thứ mà lập trình viên không thể tưởng tượng được.

Con người là loài duy nhất thường xuyên thực hiện các hành vi sáng tạo tinh tế. Nếu chúng ta có thể chia nhỏ quá trình này thành mã máy tính, thì khả năng sáng tạo của con người sẽ ở đâu? Geraint Wiggins, một nhà nghiên cứu sự sáng tạo của máy tính tại Goldsmiths, Đại học London, cho biết: “Đây là câu hỏi cốt lõi của nhân loại (at the very core of humanity). ‘Nó khiến rất nhiều người sợ hãi. Họ lo lắng rằng nó đang lấy đi một điều gì đó đặc biệt từ ý nghĩa tồn tại của con người. ”

Ở một mức độ nào đó (To some extent), tất cả chúng ta đều quen thuộc với nghệ thuật vi tính hóa. Câu hỏi đặt ra là: công việc của người nghệ sĩ sẽ dừng lại và sự sáng tạo của máy tính sẽ bắt đầu sao? Hãy xem xét một trong những nghệ sĩ máy lâu đời nhất, Aaron, một người máy đã có các bức tranh được trưng bày tại London’s Tate Modern và Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại San Francisco. Aaron có thể cầm cọ vẽ và tự vẽ trên canvas. Có lẽ ấn tượng, nhưng nó vẫn chỉ là một công cụ để hiện thực hóa (realise) ý tưởng sáng tạo của chính lập trình viên.

Simon Colton, nhà thiết kế của Painting Fool, rất muốn đảm bảo rằng sáng tạo của anh ấy không thu hút những lời chỉ trích tương tự. Không giống như các ‘nghệ sĩ’ trước đó như Aaron, Painting Fool chỉ cần hướng dẫn tối thiểu và có thể đưa ra các khái niệm của riêng mình bằng cách lên mạng tìm tài liệu. Phần mềm chạy các tìm kiếm web của riêng nó và rà soát thông qua các trang web truyền thông xã hội. Bây giờ nó cũng bắt đầu thể hiện một loại trí tưởng tượng, tạo ra những bức tranh từ tình cờ (scratch). Một trong những tác phẩm ban đầu của nó là một loạt các phong cảnh mờ ảo, mô tả cây cối và bầu trời.

Trong khi một số người có thể nói rằng chúng có cái nhìn máy móc, Colton lập luận rằng những phản ứng như vậy nảy sinh từ tiêu chuẩn kép của con người (people’s double standards) đối với nghệ thuật do con người sản xuất và phần mềm. Sau cùng, ông ấy nói, hãy xem Painting Fool đã vẽ phong cảnh mà không đề cập đến một bức ảnh. “Nếu một đứa trẻ vẽ một cảnh mới trong đầu của nó, bạn sẽ nói rằng nó có trí tưởng tượng ở một mức độ nhất định (a certain level of imagination)“, ông chỉ ra. “Máy cũng vậy.” Lỗi phần mềm cũng có thể dẫn đến kết quả không mong muốn. Một số bức tranh vẽ chiếc ghế của Painting Fool xuất hiện với màu đen và trắng nhờ vào trục trặc kỹ thuật (a technical glitch). Điều này mang lại cho tác phẩm một chất lượng kỳ lạ (eerie), ma mị (ghostlike). Các nghệ sĩ con người như Ellsworth Kelly nổi tiếng được ca ngợi (lauded for) vì hạn chế bảng màu của họ – vậy tại sao máy tính lại khác?

Các nhà nghiên cứu như Colton không tin rằng việc đo lường trực tiếp khả năng sáng tạo của máy móc với con người là những người ‘đã có hàng thiên niên kỷ để phát triển các kỹ năng của chúng ta’ là đúng đắn. Tuy nhiên, những người khác lại bị thu hút bởi viễn cảnh rằng một chiếc máy tính có thể tạo ra thứ gì đó nguyên bản và tinh tế như những nghệ sĩ giỏi nhất của chúng ta. Cho đến nay, chỉ có một chiếc đã gần làm được. Nhà soạn nhạc David Cope đã phát minh ra một chương trình có tên là Thử nghiệm trong trí thông minh âm nhạc (Experiments in Musical Intelligence), hay EMI. EMI không chỉ tạo ra các tác phẩm theo phong cách của Cope mà còn của các nhà soạn nhạc cổ điển được kính trọng nhất (most revered), bao gồm Bach, Chopin và Mozart. Khán giả đã cảm động rơi nước mắt, và EMI thậm chí còn đánh lừa các chuyên gia âm nhạc cổ điển rằng họ đang nghe Bach chính hiệu. Tuy nhiên, không phải ai cũng ấn tượng. Một số người, chẳng hạn như Wiggins, đã nổi giận cho rằng công việc của Cope là khoa học giả (pseudoscience) và lên án ông ta vì lời giải thích mơ hồ có chủ ý (deliberately vague explanation) về cách hoạt động của phần mềm. Trong khi đó, Douglas Hofstadter của Đại học Indiana cho biết EMI đã tạo ra các bản sao vẫn hoàn toàn dựa vào xung lực sáng tạo của nghệ sĩ gốc (the original artist’s creative impulses). Khi khán giả phát hiện ra sự thật, họ thường tỏ ra phẫn nộ (outraged) với Cope, và một người yêu âm nhạc thậm chí còn cố đấm anh ta. Giữa những tranh cãi như vậy, Cope đã phá hủy cơ sở dữ liệu quan trọng của EMI.

Nhưng tại sao rất nhiều người yêu thích bản nhạc này, nhưng lại giật mình khi phát hiện ra nó được sáng tác như thế nào? Một nghiên cứu của nhà khoa học máy tính David Moffat thuộc Đại học Glasgow Caledonian cung cấp manh mối. Ông yêu cầu cả nhạc sĩ chuyên nghiệp và không chuyên gia thẩm định sáu tác phẩm. Những người tham gia không được cho biết trước (weren’t told beforehand) các giai điệu do con người hay máy tính sáng tác, nhưng họ được yêu cầu đoán và sau đó đánh giá mức độ họ thích từng giai điệu. Những người nghĩ rằng nhà soạn nhạc là một máy tính có xu hướng không thích tác phẩm đó hơn những người tin rằng đó là con người. Điều này đúng ngay cả với các chuyên gia, những người có thể được mong đợi là khách quan hơn trong các phân tích của họ (more objective in their analyses).

Định kiến (prejudice) ​​này đến từ đâu? Paul Bloom của Đại học Yale có một gợi ý: ông cho rằng (reckons) một phần niềm vui mà chúng ta nhận được từ nghệ thuật bắt nguồn từ quá trình sáng tạo đằng sau tác phẩm. Bloom nói rằng điều này có thể mang lại cho nó một ‘bản chất không thể cưỡng lại được’ (‘irresistible essence’). Trong khi đó, các thí nghiệm của Justin Kruger thuộc Đại học New York đã chỉ ra rằng sự thích thú của mọi người đối với một tác phẩm nghệ thuật sẽ tăng lên nếu họ nghĩ rằng cần nhiều thời gian và nỗ lực hơn để tạo ra nó. Tương tự, Colton cho rằng khi mọi người trải nghiệm nghệ thuật, họ tự hỏi người nghệ sĩ có thể đang nghĩ gì hoặc người nghệ sĩ đang muốn nói gì với họ. Do đó, có vẻ như hiển nhiên rằng với máy tính tạo ra tác phẩm nghệ thuật, suy đoán này bị cắt ngắn – không có gì để khám phá. Nhưng khi công nghệ ngày càng trở nên phức tạp, việc tìm kiếm những chiều sâu lớn hơn trong nghệ thuật tạo ra từ máy tính có thể trở nên khả thi. Đây chính là lý do tại sao Colton yêu cầu The Painting Fool khai thác (tap) các mạng xã hội trực tuyến để lấy cảm hứng cho nó: hy vọng bằng cách này, nó sẽ chọn những chủ đề đã có ý nghĩa với chúng ta.

 

 

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 2/ Passage 1-

Đưa quế đến châu Âu

 

Quế (Cinnamon) là một loại gia vị ngọt, thơm được sản xuất từ ​​vỏ bên trong của cây thuộc chi Cinnamomum, có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ (the Indian sub-continent). Nó được biết đến trong thời Kinh thánh (biblical times) và được đề cập đến trong một số cuốn sách Thánh Kinh, vừa là thành phần được trộn với dầu để xức lên cơ thể người (for anointing people’s bodies), vừa là dấu hiệu biểu thị tình bạn giữa những người yêu và bạn bè. Ở La Mã cổ đại, những người đi dự tang lễ đốt quế để tạo mùi hương dễ chịu (a pleasant scent).

Tuy nhiên, thông thường, loại gia vị này được sử dụng chủ yếu như một chất phụ gia cho thức ăn và đồ uống. Vào thời Trung cổ, những người châu Âu có khả năng mua được gia vị này đã sử dụng nó để tạo hương vị cho thực phẩm, đặc biệt là thịt, và để gây ấn tượng với những người xung quanh bằng khả năng mua một loại gia vị đắt tiền (an expensive condiment) từ phương Đông ‘kỳ lạ’. Trong một bữa tiệc sang trọng (banquet), người chủ trì sẽ mời khách một đĩa với nhiều loại gia vị khác nhau được xếp trên đó như một dấu hiệu của sự giàu có theo ý của họ. Quế cũng được cho là có lợi cho sức khỏe và được cho là có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau (to cure various ailments), chẳng hạn như chứng khó tiêu (indigestion).

Vào cuối thời Trung cổ, tầng lớp trung lưu châu Âu bắt đầu khao khát (desire) lối sống của giới thượng lưu (the elite), bao gồm cả việc tiêu thụ gia vị của họ. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về quế và các loại gia vị khác. Vào thời điểm đó, quế được vận chuyển bởi các thương nhân Ả Rập, những người này đã bảo vệ chặt chẽ (closely guarded) bí mật về nguồn gốc của gia vị khỏi các đối thủ (rivals) tiềm năng. Họ lấy nó từ Ấn Độ, nơi nó được trồng, trên những con lạc đà thông qua một tuyến đường bộ đến Địa Trung Hải (Mediterranean). Cuộc hành trình của họ kết thúc khi họ đến được Alexandria. Các thương nhân châu Âu đã đi thuyền đến đó để mua nguồn cung cấp quế của họ, sau đó đưa nó trở lại Venice. Sau đó, gia vị được chuyển từ thành phố buôn bán tuyệt vời đó đến các thị trường khắp châu Âu.

Bởi vì con đường thương mại trên bộ chỉ cho phép một lượng nhỏ gia vị đến được châu Âu và bởi vì Venice gần như có độc quyền thương mại, người Venice có thể đặt giá quế cao cắt cổ (exorbitantly high). Giá cả này cùng với nhu cầu ngày càng tăng đã thúc đẩy những người châu Âu háo hức tham gia vào ngành buôn bán gia vị tìm kiếm các tuyến đường mới đến châu Á.

Để tìm kiếm lợi nhuận cao đầy hứa hẹn của thị trường quế, các thương nhân Bồ Đào Nha đã đến đảo Tích Lan (Ceylon) ở Ấn Độ Dương vào cuối thế kỷ 15. Trước khi người châu Âu đến đảo, nhà nước đã tổ chức trồng quế. Những người thuộc nhóm dân tộc được gọi là Salagama sẽ bóc vỏ những chồi non (young shoots) của cây quế vào mùa mưa, khi vỏ cây ướt sẽ dẻo (pliable) hơn. Trong quá trình bóc vỏ, họ cuộn tròn (curled) vỏ cây thành hình dạng ‘cây gậy’ vẫn được kết hợp với gia vị ngày nay. Sau đó, Salagama đã cung cấp thành phẩm cho nhà vua như một hình thức cống nạp (as a form of tribute).

Khi người Bồ Đào Nha đến, họ cần tăng sản lượng lên một cách đáng kể, và vì vậy, nhiều thành viên khác của cư dân bản địa Ceylonese đã bị bắt làm nô lệ (enslaved), buộc họ phải làm công việc thu hoạch quế. Vào năm 1518, người Bồ Đào Nha đã xây dựng một pháo đài trên đảo Ceylon, điều này giúp họ có thể bảo vệ hòn đảo, nhờ đó giúp họ phát triển độc quyền buôn bán quế và đem lại lợi nhuận rất cao. Ví dụ, vào cuối thế kỷ 16, họ đã được hưởng lợi nhuận gấp 10 lần (tenfold) khi vận chuyển quế trong hành trình 8 ngày từ Ceylon đến Ấn Độ.

Khi người Hà Lan đến ngoài khơi bờ biển Nam Á vào đầu thế kỷ 17, họ đã nhắm đến việc (set their sights on) thay thế người Bồ Đào Nha như những vị vua của quế. Người Hà Lan liên minh với Kandy, một vương quốc nội địa trên Ceylon. Để đổi lại các khoản thanh toán bằng voi và quế, họ đã bảo vệ vị vua bản địa khỏi người Bồ Đào Nha. Đến năm 1649, người Hà Lan phá vỡ thế độc quyền kéo dài 150 năm của Bồ Đào Nha khi họ chế ngự (overran)chiếm đóng (occupied) các nhà máy của người Hà Lan. Đến năm 1658, họ đã trục xuất vĩnh viễn (permanently expelled) người Bồ Đào Nha khỏi hòn đảo, do đó giành quyền kiểm soát việc buôn bán quế béo bở (lucrative).

Để bảo vệ thị trường của họ, người Hà Lan, cũng giống như người Bồ Đào Nha đã đến trước họ, đối xử thô bạo (harshly) với cư dân bản địa. Do nhu cầu thúc đẩy sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của châu Âu đối với quế, người Hà Lan đã bắt đầu thay đổi (alter) các phương thức thu hoạch (the harvesting practices) ở Ceylonese. Theo thời gian, nguồn cung ứng cây quế trên đảo gần như cạn kiệt (exhausted) do việc chặt bỏ vỏ một cách có hệ thống (systematic stripping of the bark). Cuối cùng, người Hà Lan đã bắt đầu trồng cây quế của riêng họ để bổ sung (supplement) cho số lượng cây hoang dã đang giảm dần (diminishing) để sử dụng.

Sau đó, vào năm 1996, người Anh đến Ceylon, qua đó thay thế người Hà Lan khỏi quyền kiểm soát độc quyền quế của họ. Vào giữa thế kỷ 19, sản lượng quế đạt 1.000 tấn mỗi năm, sau khi thị hiếu châu Âu chấp nhận chất lượng thấp hơn của loại gia vị này. Vào thời điểm đó, quế đã được trồng ở các khu vực khác của các vùng  Ấn Độ Dương và ở Tây Ấn, Brazil và Guyana. Không chỉ độc quyền về quế trở nên bất khả thi, mà việc buôn bán gia vị nói chung đang giảm dần về tiềm năng kinh tế, và cuối cùng bị thay thế bởi sự gia tăng của trị trường thương mại cà phê, trà, sô cô la và đường.

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 2/ Passage 2-

Oxytocin

 

A

Oxytocin là một chất hóa học, một loại hormone được sản xuất trong tuyến yên (the pituitary gland) trong não. Thông qua các nghiên cứu khác nhau tập trung trên động vật, các nhà khoa học lần đầu tiên biết đến ảnh hưởng của oxytocin. Họ phát hiện ra rằng nó giúp củng cố mối liên kết (reinforce the bonds) giữa những con chuột đồng cỏ (prairie voles), chúng giao phối suốt đời và kích hoạt hành vi mẫu tử mà loài cừu thể hiện đối với cừu con mới sinh của chúng. Nó cũng được giải phóng bởi phụ nữ khi người nữ sinh nở, tăng cường sự gắn bó giữa mẹ và bé. Rất ít hóa chất có danh tiếng tích cực như oxytocin, đôi khi được gọi là ‘hormone tình yêu’. Người ta khẳng định rằng chỉ cần một lần ngửi (sniff) nó có thể khiến một người trở nên đáng tin cậy (trusting), đồng cảm (empathetic), hào phóng (generous)hợp tác (cooperative) hơn. Tuy nhiên, đã đến lúc phải xem xét lại (revise) quan điểm hoàn toàn lạc quan (wholly optimistic view) này. Một làn sóng nghiên cứu mới đã chỉ ra rằng tác động của nó rất khác nhau tùy thuộc vào từng người và hoàn cảnh, và nó có thể làm cho các tương tác xã hội của chúng ta tồi tệ hơn cũng như tốt hơn.

B

Vai trò của Oxytocin đối với hành vi con người lần đầu tiên xuất hiện (emerged) vào năm 2005. Trong một thí nghiệm đột phá (groundbreaking), Markus Heinrichs và các đồng nghiệp của ông tại Đại học Freiburg, nước Đức, đã yêu cầu các tình nguyện viên thực hiện một hoạt động, trong đó họ có thể đầu tư tiền với một người ẩn danh (an anonymous person) không được đảm bảo là thật thà (honest). Nhóm nghiên cứu nhận thấy những người tham gia đã hít oxytocin qua bình xịt mũi trước đó đầu tư nhiều tiền hơn những người được dùng giả dược (placebo). Nghiên cứu này là bước khởi đầu của nghiên cứu về tác động của oxytocin đối với các tương tác của con người. “Trong tám năm, đó là một lĩnh vực khá đơn độc (lonesome),” Heinrichs nhớ lại. “Bây giờ thì mọi người đều quan tâm.” Những nghiên cứu tiếp theo này đã chỉ ra rằng sau khi ngửi hormone, mọi người trở nên nhân đạo (charitable) hơn, đọc cảm xúc trên khuôn mặt người khác tốt hơn và giao tiếp mang tính xây dựng (communicating constructively) trong các cuộc tranh luận. Cùng với nhau, các kết quả đã thúc đẩy (fuelled) quan điểm rằng oxytocin đã nâng cao các khía cạnh tích cực trong bản chất xã hội của chúng ta một cách phổ biến.

C

Sau đó, sau một vài năm, những phát hiện tương phản (contrasting findings) bắt đầu xuất hiện. Simone Shamay-Tsoory tại Đại học Haifa, Israel, phát hiện ra rằng khi các tình nguyện viên chơi một trò chơi cạnh tranh (a competitive game), những người hít phải hormone này tỏ ra thích thú hơn khi họ đánh bại những người chơi khác và cảm thấy ghen tị (envy) hơn khi người khác chiến thắng. Hơn nữa, sử dụng oxytocin cũng có những kết quả tương phản rõ rệt (sharply contrasting outcomes) tùy thuộc vào cơ địa của mỗi người (a person’s disposition). Jennifer Bartz từ Trường Y Mount Sinai, New York, nhận thấy rằng nó cải thiện khả năng đọc cảm xúc của con người, nhưng chỉ khi họ không phải là người hiểu biết về xã hội. Nghiên cứu của bà cũng chỉ ra rằng oxytocin trên thực tế làm giảm sự hợp tác ở những đối tượng đặc biệt lo lắng hoặc nhạy cảm với việc bị từ chối.

D

Một khám phá khác là tác dụng của oxytocin khác nhau tùy thuộc vào người mà chúng ta đang tương tác. Các nghiên cứu được thực hiện bởi Carolyn DeClerck của Đại học Antwerp, Bỉ, tiết lộ rằng những người được tiêm một liều oxytocin thực sự trở nên kém hợp tác hơn khi tiếp xúc với những người hoàn toàn xa lạ. Trong khi đó, Carsten De Dreu tại Đại học Amsterdam ở Hà Lan phát hiện ra rằng những người tình nguyện được cung cấp oxytocin thể hiện sự thiên vị (favouritism): chẳng hạn, đàn ông Hà Lan liên hệ những từ tích cực với tên Hà Lan hơn là với tên những người nước ngoài. Theo De Dreu, oxytocin thúc đẩy mọi người quan tâm đến những người trong vòng kết nối xã hội của họ và bảo vệ (defend) họ khỏi những nguy hiểm bên ngoài. Vì vậy, dường như oxytocin củng cố thành kiến (strengthens biases), thay vì thúc đẩy thiện chí chung chung (general goodwill), như người ta vẫn nghĩ trước đây (as was previously thought).

E

Đã có những dấu hiệu của những sự xảo trá (subtleties) này ngay từ đầu. Bartz gần đây đã chỉ ra rằng trong gần một nửa số kết quả nghiên cứu hiện có, oxytocin chỉ ảnh hưởng đến một số cá nhân hoặc trong một số trường hợp nhất định. Nơi mà trước đây các nhà nghiên cứu không để ý đến những phát hiện như vậy (took no notice of such findings), thì giờ đây, sự hiểu biết nhiều sắc thái hơn (a more nuanced understanding) về tác dụng của oxytocin đang thúc đẩy (propelling) các cuộc điều tra đi xuống những hướng mới. Đối với Bartz, chìa khóa để hiểu được nội tiết tố nằm ở việc xác định chính xác (pinpointing) chức năng cốt lõi của nó chứ không phải là liệt kê các tác dụng dường như vô tận của nó. Có một số giả thuyết không loại trừ lẫn nhau (not mutually exclusive). Oxytocin có thể giúp giảm lo lắng và sợ hãi. Hoặc nó có thể đơn giản thúc đẩy mọi người tìm kiếm các kết nối xã hội. Cô ấy tin rằng oxytocin hoạt động như một ánh sáng hóa học chiếu vào các đầu mối xã hội (social clues) – sự thay đổi tư thế, ánh mắt nhấp nháy, giọng nói – khiến mọi người hòa hợp (attuned) hơn với môi trường xã hội của họ. Điều này sẽ giải thích tại sao nó khiến chúng ta có nhiều khả năng nhìn vào mắt người khác hơn và cải thiện khả năng xác định cảm xúc của chúng ta. Nhưng nó cũng có thể khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn đối với những người quá nhạy cảm hoặc có xu hướng giải thích các tín hiệu xã hội theo cách xấu nhất (prone to interpreting social cues in the worst light).

F

Có lẽ chúng ta không nên ngạc nhiên khi câu chuyện về oxytocin ngày càng trở nên rắc rối hơn. Hormone này được tìm thấy trong mọi thứ, từ bạch tuộc đến cừu, và nguồn gốc tiến hóa của nó (its evolutionary roots) kéo dài nửa tỷ năm. Sue Carter tại Đại học Illinois, Chicago, Hoa Kỳ cho biết: “Đó là một phân tử rất đơn giản và cổ xưa đã được đồng chọn (co-opted) cho nhiều chức năng khác nhau. “Nó ảnh hưởng đến các bộ phận nguyên thủy của não như hạch hạnh nhân, vì vậy nó sẽ có nhiều tác động đến mọi thứ.” Bartz đồng ý. ‘Oxytocin có thể thực hiện một số điều rất cơ bản, nhưng khi bạn thêm tư duy bậc cao (higher-order thinking) và các tình huống xã hội của chúng ta, những quá trình cơ bản này có thể biểu hiện (manifest) theo những cách khác nhau tùy thuộc vào sự khác biệt và bối cảnh của từng cá nhân. ”

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 2/ Passage 3-

 

TẠO RA XU HƯỚNG HÀNG ĐẦU
Các chuyên gia từ Trường Kinh doanh Harvard đưa ra lời khuyên cho các nhà quản lý

 

Hầu hết các nhà quản lý có thể xác định các xu hướng chính của thời đại. Nhưng trong quá trình thực hiện nghiên cứu một số lĩnh vực và làm việc trực tiếp với các công ty, chúng tôi đã phát hiện ra rằng các nhà quản lý thường không nhận ra sự mờ nhạt đầy sâu sắc mà những xu hướng này đang ảnh hưởng đến nguyện vọng, thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Điều này đặc biệt đúng với các xu hướng mà các nhà quản lý coi là ngoại vi (peripheral) của thị trường cốt lõi của họ.

Nhiều người bỏ qua các xu hướng trong chiến lược đổi mới của họ hoặc áp dụng cách tiếp cận chờ đợi và để đối thủ cạnh tranh dẫn đầu. Ở mức tối thiểu, những phản hồi như vậy có nghĩa là cơ hội kiếm lời bị bỏ lỡ. Ở mức cực đoan (At the extreme), họ có thể gây nguy hiểm (jeopardize) cho một công ty bằng cách nhường cho các đối thủ cơ hội biến hóa (transform) ngành. Mục đích của bài viết này gồm hai phần: thúc đẩy các nhà quản lý suy nghĩ rộng hơn về cách các xu hướng có thể tạo ra các đề xuất giá trị mới (engender new value propositions) trong thị trường cốt lõi của họ và cung cấp một số lời khuyên chuyên môn về cách làm cho nhân viên nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm (market research and product development personnel) thành thạo hơn trong việc phân tích và khai thác các xu hướng.

Một chiến lược, được gọi là ‘truyền tải và tăng cường’ (‘infuse and augment’), là thiết kế một sản phẩm hoặc dịch vụ giữ lại hầu hết các thuộc tính và chức năng của các sản phẩm hiện có trong danh mục nhưng thêm các sản phẩm khác đáp ứng những nhu cầu và mong muốn mở ra do một xu hướng chính phát sinh (unleashed by a major trend). Một trường hợp điển hình trong dòng sản phẩm túi xách Poppy mà công ty Coach đã tạo ra để đối phó với sự suy thoái kinh tế (response to the economic downturn) năm 2008. Thương hiệu Coach đã là biểu tượng của sự xa hoa và sang trọng (a symbol of opulence and luxury) trong gần 70 năm, và phản ứng rõ ràng nhất đối với sự suy thoái là sản phẩm sẽ nên được hạ giá. Tuy nhiên, điều đó có nguy cơ làm thay đổi hình ảnh của thương hiệu (risked cheapening the brand’s image). Thay vào đó, họ khởi xướng (initiated) một dự án nghiên cứu người tiêu dùng cho thấy rằng khách hàng mong muốn đưa bản thân và đất nước thoát khỏi thời kỳ khó khăn (out of tough times).

Sử dụng những hiểu biết này, Coach đã tung ra những chiếc túi xách Poppy giá rẻ hơn, có màu sắc rực rỡ (vibrant color)trông trẻ trung và vui tươi hơn (looked more youthful and playful) các sản phẩm thông thường (conventional) của Coach. Việc tạo thương hiệu phụ (sub-brand) cho phép Coach ngăn chặn việc giảm giá trên diện rộng (avert an across-the-board price cut).

Trái ngược với nhiều công ty phản ứng với suy thoái (recession) bằng cách cắt giảm giá, Coach coi tư duy tiêu dùng mới (new consumer mindset) là cơ hội để đổi mới và làm mới.

Một ví dụ khác về chiến lược này là phản ứng của siêu thị Tesco đối với mối quan tâm ngày càng tăng của người tiêu dùng về môi trường. Với suy nghĩ đó (With that in mind), Tesco, một trong năm nhà bán lẻ hàng đầu thế giới, đã giới thiệu chương trình Sống xanh hơn, thể hiện cam kết của công ty (demonstrates the company’s commitment) trong việc bảo vệ môi trường bằng cách thu hút người tiêu dùng theo những cách tạo ra kết quả hữu hình (produce tangible results). Ví dụ: khách hàng của Tesco có thể tích lũy điểm (accumulate points) cho các hoạt động như tái sử dụng túi, hộp tái chế và hộp mực máy in (printer cartridges) cũng như mua vật liệu cách nhiệt cho ngôi nhà (home-insulation materials).

Giống như điểm kiếm được khi mua hàng thông thường, những điểm xanh này có thể được đổi thành tiền mặt (redeemed for cash). Tesco đã không từ bỏ cung cấp bán lẻ truyền thống của mình nhưng đã tăng cường (augmented) hoạt động kinh doanh của mình bằng những đổi mới này, do đó truyền tải giá trị của nó với một vệt xanh (thereby infusing its value proposition with a green streak).

Một chiến lược cấp tiến hơn (A more radical strategy)‘kết hợp và vượt lên trên’ (‘combine and transcend’). Điều này đòi hỏi phải kết hợp các khía cạnh của những giá trị của sản phẩm hiện hành với các thuộc tính có khả năng giải quyết những thay đổi phát sinh từ xu hướng thị trường, để tạo ra một trải nghiệm mới – một mảnh đất có thể đưa công ty vào một không gian thị trường hoàn toàn mới. Thoạt nhìn, việc chi tiêu nguồn lực để kết hợp các yếu tố của một xu hướng dường như không liên quan vào các dịch vụ cốt lõi của một người nghe có vẻ như là điều khó có giá trị (sounds like it’s hardly worthwhile). Nhưng hãy xem xét động thái của Nike để tích hợp cuộc cách mạng kỹ thuật số (integrate the digital revolution) vào danh tiếng của hãng về giày thể thao chất lượng cao (high-performance athletic footwear).

Năm 2006, họ hợp tác với công ty công nghệ Apple để ra mắt Nike +, một bộ thể thao kỹ thuật số bao gồm một cảm biến gắn vào giày chạy bộ và một bộ thu không dây kết nối với iPod của người dùng. Bằng cách kết hợp đề xuất giá trị ban đầu của Nike dành cho vận động viên nghiệp dư với đề xuất dành cho người tiêu dùng kỹ thuật số, bộ đồ thể thao Nike + và giao diện web đã chuyển công ty từ việc tập trung vào quần áo thể thao sang một khía cạnh tương tác mới (a new plane of engagement) với khách hàng.

Cách tiếp cận thứ ba, được gọi là ‘phản bác và khẳng định lại’ (‘counteract and reaffirm’), liên quan đến việc phát triển các sản phẩm hoặc dịch vụ nhấn mạnh các giá trị truyền thống (stress the values traditionally) liên quan đến danh mục theo cách cho phép người tiêu dùng phản đối – hoặc ít nhất là tạm thời thoát khỏi – các khía cạnh của xu hướng mà họ coi là không mong muốn (undesirable). Một sản phẩm đã đạt được điều này là ME2, một trò chơi điện tử do iToys của Canada tạo ra. Bằng cách khẳng định lại (reaffirming) mối liên hệ của danh mục đồ chơi với trò chơi thể chất, ME2 đã chống lại một số tác động tiêu cực được nhận thức rộng rãi (the widely perceived negative impacts) của các thiết bị trò chơi kỹ thuật số. Giống như các trò chơi cầm tay khác, thiết bị có một loạt các trò chơi tương tác thú vị, màn hình LCD đủ màu và đồ họa 3D tiên tiến (advanced 3D graphics).

Điều khiến nó trở nên khác biệt (What set it apart) là nó đã kết hợp thành phần thể chất truyền thống trong trò chơi của trẻ em: nó chứa một máy đếm bước đi (pedometer), theo dõi và thưởng điểm cho hoạt động thể chất (đi bộ, chạy, đi xe đạp, trượt ván, leo cầu thang). Đứa trẻ có thể sử dụng điểm để nâng cao các kỹ năng ảo khác nhau cần thiết cho trò chơi điện tử. ME2, được giới thiệu vào giữa năm 2008, đáp ứng mong muốn lớn của trẻ em là chơi trò chơi điện tử trong khi chống lại những tiêu cực, chẳng hạn như liên quan đến việc thiếu vận động và béo phì.

Khi bạn đã có được quan điểm (gained perspective) về những thay đổi liên quan đến xu hướng trong quan điểm và hành vi của người tiêu dùng tác động đến danh mục sản phẩm của bạn như thế nào, bạn có thể xác định chiến lược đổi mới nào trong ba chiến lược đổi mới của chúng tôi để làm theo (pursue). Khi đề xuất giá trị cơ bản cho danh mục của bạn tiếp tục có ý nghĩa đối với những người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi xu hướng, thì chiến lược ‘truyền tải và tăng cường’ (‘infuse and augment’) sẽ cho phép bạn phục hồi danh mục (reinvigorate the category). Nếu phân tích cho thấy sự chênh lệch (disparity) ngày càng tăng giữa danh mục của bạn và trọng tâm mới của người tiêu dùng, thì những đổi mới của bạn cần phải vượt qua (transcend) danh mục để tích hợp hai thế giới (ntegrate the two worlds). Cuối cùng, nếu các khía cạnh của danh mục xung đột (clash) với kết quả không mong muốn của xu hướng, chẳng hạn như mối liên hệ với lối sống không lành mạnh, thì sẽ có cơ hội để chống lại những thay đổi đó bằng cách khẳng định lại (reaffirming) các giá trị cốt lõi của danh mục của bạn.

Các xu hướng – công nghệ, kinh tế, môi trường, xã hội hoặc chính trị – ảnh hưởng đến cách mọi người nhìn nhận (perceive) thế giới xung quanh và định hình (shape) những gì họ mong đợi từ các sản phẩm và dịch vụ, mang đến cho các công ty những cơ hội phát triển độc nhất (unique opportunities for growth).

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 3/ Passage 1-

Cây Cọ Dừa

 

Trong nhiều thiên niên kỷ, dừa là trung tâm của cuộc sống của các dân tộc Polynesia và châu Á. Mặt khác, ở thế giới phương Tây, dừa luôn là thứ kỳ lạ (exotic)khác thường (unusual), đôi khi rất hiếm (rare). Du khách kiêm nhà buôn người Ý, Marco Polo, đã nhìn thấy rõ ràng dừa ở Nam Á vào cuối thế kỷ 13, và trong số các tác phẩm du ký giữa thế kỷ 14 của Sir John Mandeville có đề cập đến ‘Great Notes of Ynde’ (Quả hạch vĩ đại của Ấn Độ). Ngày nay, hình ảnh những bãi biển nhiệt đới rợp bóng cọ là hình ảnh sáo rỗng (clichés) ở phương Tây để bán những ngày lễ, thanh sô cô la, đồ uống có ga và thậm chí cả sự lãng mạn.

Thông thường, chúng ta hình dung (envisage) trái dừa như những viên đạn pháo màu nâu (brown cannonballs), khi mở ra sẽ cho cơm dừa trắng ngọt. Nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy một phần của quả và không thấy cây sinh ra chúng. Cọ dừa có thân (trunk) nhẵn, mảnh, màu xám, cao tới 30 mét. Đây là một nguồn gỗ quan trọng để xây dựng nhà ở, và ngày càng được sử dụng để thay thế các loại gỗ cứng đang bị đe dọa tuyệt chủng trong ngành xây dựng nội thất.

Thân cây được bao bọc bởi một chùm lá hình hoa thị, mỗi chiếc có thể dài tới sáu mét. Những chiếc lá có những đường gân cứng ở giữa, ở nhiều nơi trên thế giới, được sử dụng làm bàn chải sau khi phần xanh của lá đã bị tước đi. Hoa dừa cạn mọc thành cụm chặt chẽ với nhau giữa những chiếc lá ở đầu thân cây. Cành hoa có thể được khai thác để lấy nhựa làm thức uống, và nhựa cây cũng có thể khử bằng cách đun sôi để tạo ra một loại đường dùng để nấu ăn.

Cây cọ dừa cho khoảng bảy mươi trái mỗi năm, mỗi trái nặng hơn một kg. Vỏ của quả dừa có ba lớp: lớp ngoài (outer layer) không thấm nước, lớp xơ (fibrous) ở giữa và lớp trong cứng. Lớp xơ dày ở giữa tạo ra xơ dừa, ‘xơ dừa’ (‘coir’), có nhiều công dụng và đặc biệt quan trọng trong sản xuất dây thừng. Lớp gỗ trong cùng, vỏ (shell), với ba ‘mắt’ nổi bật, bao quanh hạt. Một sản phẩm quan trọng thu được (obtained) từ vỏ là than củi, được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp khác nhau cũng như trong gia đình như một chất đốt để nấu ăn. Khi bẻ đôi, vỏ (shells) còn được dùng làm bát ở nhiều nơi ở châu Á.

Bên trong vỏ là các chất dinh dưỡng (nội nhũ) (endosperm) cần thiết cho hạt đang phát triển. Ban đầu, nội nhũ là một chất lỏng ngọt, nước dừa, được sử dụng như một thức uống, nhưng cũng cung cấp các hormone khuyến khích các cây khác phát triển nhanh hơn và cho năng suất cao hơn. Khi trái chín, nước dừa dần dần đặc lại (solidifies) để tạo thành phần thịt có màu trắng đục, giàu chất béo, có thể ăn được.

Cùi dừa khô, ‘cùi dừa’ (‘copra’), được làm thành dầu dừa và nước cốt dừa, được sử dụng rộng rãi trong nấu ăn ở các nơi khác nhau trên thế giới, cũng như trong mỹ phẩm. Một dẫn xuất (derivative) của chất béo có trong dừa là glycerine, có tầm quan trọng chiến lược trong một lĩnh vực hoàn toàn khác (quite different sphere), khi Alfred Nobel giới thiệu với thế giới phát minh dựa trên nitroglycerine của ông: thuốc nổ.

Đặc tính sinh học của chúng dường như khiến dừa trở thành những người đi biển vĩ đại (the great maritime voyages) và những người khai hoang ven biển của thế giới thực vật (coastal colonizers of the plant world). Các loại quả lớn, giàu năng lượng có thể nổi trong nước và chịu được muối, nhưng không thể tồn tại vô thời hạn (but cannot remain viable indefinitely); các nghiên cứu cho thấy sau khoảng 110 ngày trên biển, chúng không còn khả năng nảy mầm (germinate). Theo nghĩa đen, khi dạt lên bờ biển đảo hoang, chỉ cần thêm ít cát để trồng và tiếp xúc với ánh nắng chói chang của mặt trời nhiệt đới, hạt dừa có thể nảy mầm và ra rễ. Túi khí trong hạt, được tạo ra khi nội nhũ đông đặc lại, bảo vệ phôi (embryo). Ngoài ra, lớp xơ của vỏ quả dừa giúp nó nổi trong hành trình lênh đênh, lưu giữ độ ẩm mà rễ cây dừa có thể hấp thụ (taken up) khi nó bắt đầu phát triển.

Đã có nhiều thế kỷ tranh luận học thuật về nguồn gốc của dừa. Không có rặng dừa nào ở Tây Phi, Caribe hay bờ biển phía đông của người Mỹ trước chuyến đi của các nhà thám hiểm châu Âu Vasco da Gama và Columbus vào cuối thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16. Các mô hình thương mại và di cư của con người (human migration) ở thế kỷ 16 cho thấy rằng các thương nhân Ả Rập và thủy thủ châu Âu có khả năng đã chuyển dừa từ Nam và Đông Nam Á đến châu Phi và sau đó qua Đại Tây Dương đến bờ biển phía đông của Mỹ. Nhưng nguồn gốc của dừa được phát hiện dọc theo bờ biển phía tây nước Mỹ bởi các thủy thủ thế kỷ 16 đã là chủ đề của cuộc thảo luận hàng thế kỷ. Hai nguồn gốc hoàn toàn trái ngược nhau đã được đề xuất (Two diametrically opposed origins have been proposed): chúng đến từ châu Á hoặc chúng có nguồn gốc từ châu Mỹ. Cả hai đề xuất đều có vấn đề. Ở châu Á, có một sự đa dạng các chủng loại của dừa và bằng chứng về việc con người đã sử dụng chúng suốt hàng thiên niên kỷ – nhưng không có chi họ dừa nào mọc trong tự nhiên. Ở Mỹ, có những cây họ hàng gần với dừa, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy dừa là bản địa. Những vấn đề này đã dẫn đến một gợi ý thú vị (the intriguing suggestion) rằng dừa có nguồn gốc từ các đảo san hô ở Thái Bình Dương và được phân tán từ đó.

 

-Theo Cambridge 13/Test 3/ Passage 2-

Cách nói chuyện của bé giúp não trẻ sơ sinh phát triển

 

A

Cách nói chuyện thông thường với một em bé – cao độ, cường điệu và sự lặp đi lặp lại – là nguồn thu hút đối với các nhà ngôn ngữ học (linguists), những người hy vọng hiểu được tác động của ‘baby talk’ đối với việc học. Hầu hết trẻ sơ sinh bắt đầu phát triển thính giác khi còn trong bụng mẹ (womb), gợi lên một số hy vọng làm bậc cha mẹ chơi nhạc cổ điển cho bụng bầu của họ. Một số nghiên cứu thậm chí còn gợi ý rằng trẻ sơ sinh có thể nghe lời nói của người lớn sớm nhất là 10 tuần trước khi được sinh ra, thu thập các nhóm nền tảng cơ bản sử dụng tiếng mẹ đẻ trong gia đình.

B

Tiếp xúc với ngôn ngữ sớm dường như có lợi cho não bộ – ví dụ, các nghiên cứu cho thấy rằng những đứa trẻ được nuôi dạy trong các gia đình song ngữ (bilingual homes) học cách ưu tiên thông tin hơn. Vậy âm thanh ngọt ngào đôi khi vô lý của lời nói dành cho trẻ sơ sinh ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của trẻ? Dưới đây là một số nghiên cứu gần đây khám phá khoa học đằng sau trò chuyện của bé.

C

Theo một nghiên cứu mới, các ông bố không sử dụng cách trò chuyện với trẻ thường xuyên hoặc theo cách giống như các bà mẹ – và điều đó hoàn toàn ổn. Mark VanDam của Đại học Bang Washington tại Spokane và các đồng nghiệp đã trang bị cho các bậc cha mẹ thiết bị ghi âm và phần mềm nhận dạng giọng nói để nghiên cứu cách họ tương tác với trẻ trong một ngày bình thường. “Chúng tôi nhận thấy rằng các bà mẹ làm chính xác những gì bạn mong đợi và những gì đã được mô tả nhiều lần”, VanDam giải thích. “Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng các ông bố không làm điều tương tự. Các ông bố không cao giọng hoặc tần suất cơ bản (fundamental frequency) khi nói chuyện với con cái. “Vai trò của họ có thể bắt nguồn từ cái được gọi là giả thuyết cây cầu (the bridge hypothesis), có từ năm 1975. Nó cho thấy rằng các ông bố ít sử dụng ngôn ngữ gia đình hơn để cung cấp cho con cái cầu nối với loại bài phát biểu mà con trẻ sẽ nghe trong cộng đồng. VanDam nói: “Ý tưởng là một đứa trẻ được thực hành một loại bài phát biểu nhất định với mẹ và một loại bài phát biểu khác với bố, vì vậy đứa trẻ sau đó sẽ có nhiều loại bài phát biểu hơn để luyện tập”.

D

Các nhà khoa học từ Đại học Washington và Đại học Connecticut đã thu thập hàng nghìn cuộc trò chuyện kéo dài 30 giây giữa cha mẹ và con cái của họ, áo của 26 trẻ em được lắp máy ghi âm ghi lại ngôn ngữ và âm thanh trong tám giờ mỗi ngày. Nghiên cứu cho thấy rằng cha mẹ càng trò chuyện nhiều với trẻ nhỏ thì con của họ càng bập bẹ (babble) hơn. Và khi các nhà nghiên cứu nhìn thấy những đứa trẻ giống nhau lúc hai tuổi, họ phát hiện ra rằng việc trẻ nói chuyện thường xuyên đã tăng cường đáng kể vốn từ vựng, bất kể tình trạng kinh tế xã hội (regardless of socioeconomic status). Nairán Ramirez-Esparza thuộc Đại học Connecticut cho biết: “Những đứa trẻ lắng nghe nhiều cuộc trò chuyện theo cách trẻ nhỏ nói sẽ nói nhiều hơn những đứa trẻ nghe cuộc trò chuyện như người lớn nói hoặc các bài nói chuẩn. Cô cho biết thêm: “Chúng tôi cũng nhận thấy rằng việc bạn sử dụng trò chuyện với em bé trong từng ngữ cảnh một thực sự quan trọng. ‘Cha mẹ càng sử dụng phương pháp nói chuyện riêng với con trẻ, trẻ càng bi bô, và trẻ càng bập bẹ, càng tạo ra nhiều từ hơn sau này.’

E

Một nghiên cứu khác cho thấy rằng cha mẹ có thể muốn ghép đôi con cái của họ để chúng có thể bập bẹ hơn với trẻ cùng tuổi với chúng. Các nhà nghiên cứu từ Đại học McGill và Université du Québec à Montréal phát hiện ra rằng trẻ sơ sinh dường như thích lắng nghe nhau hơn là nghe người lớn – đó có thể là lý do tại sao trò chuyện của trẻ lại là một công cụ phổ biến đối với các bậc cha mẹ. Họ bật các nguyên âm lặp lại được tạo ra bởi một thiết bị tổng hợp đặc biệt bắt chước âm thanh do một phụ nữ trưởng thành hoặc một em bé khác tạo ra. Bằng cách này, chỉ có tác động của các tín hiệu thính giác (auditory cues) được quan sát. Sau đó, nhóm nghiên cứu đo lường thời gian mà mỗi loại âm thanh thu hút sự chú ý của trẻ sơ sinh. Họ phát hiện ra rằng âm thanh ‘trẻ sơ sinh’ thu hút sự chú ý của trẻ lâu hơn gần 40%. Âm thanh ghi lại từ em bé cũng tạo ra nhiều phản ứng ở trẻ hơn khi chúng nghe loại này, như mỉm cười hoặc cử động môi, gần như tạo ra âm thanh. Nhóm nghiên cứu giả thuyết rằng sự hấp dẫn này đối với các âm thanh khác của trẻ sơ sinh có thể giúp khởi động quá trình học hỏi dẫn đến lời nói. Đồng tác giả nghiên cứu, Linda Polka, cho biết: “Có thể một số đặc tính của âm thanh đang thu hút sự chú ý của bé’. ‘Hoặc có thể bé thực sự quan tâm đến loại âm thanh cụ thể đó bởi vì chúng đang bắt đầu tập trung vào khả năng tạo ra âm thanh của chính mình. Chúng tôi đang suy đoán rằng nhưng nó có thể thu hút sự chú ý của trẻ con vì chúng nhận ra đó là âm thanh mà chúng có thể tạo ra. ”

F

Trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, tổng số 57 trẻ sơ sinh từ hai nhóm tuổi hơi khác nhau – bảy tháng và mười một tháng rưỡi – đã được bật cho nghe một số âm tiết, bao gồm cả tiếng mẹ đẻ (tiếng Anh) và tiếng ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ (tiếng Tây Ban Nha). Những đứa trẻ sơ sinh được đặt trong một máy quét kích hoạt não (a brain-activation scanner) ghi lại hoạt động trong một vùng não được biết là hướng dẫn các chuyển động cơ tạo ra tiếng nói. Kết quả cho thấy rằng việc lắng nghe tiếng em bé nói chuyện sẽ thúc đẩy não bộ trẻ sơ sinh bắt đầu thực hành các kỹ năng ngôn ngữ của chúng.

‘Tìm kiếm sự kích hoạt trong các khu vực vận động, não trẻ đang cố gắng nói chuyện với âm thanh nghe được ngay từ đầu, và cho thấy rằng việc não của trẻ-7-tháng-tuổi đang cố gắng tìm hiểu cách tạo ra sự kích hoạt đó, là trong khi trẻ 7 tháng tuổi phản ứng với tất cả các âm thanh lời nói bất kể ngôn ngữ, thì não của trẻ sơ sinh 11,5 tháng tuổi làm việc chăm chỉ hơn trong các hoạt động vận động của âm thanh không phải bản địa so với âm thanh bản địa. Nghiên cứu cũng có thể đã khám phá (uncovered) ra một quá trình mà trẻ sơ sinh nhận ra sự khác biệt giữa ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng và các ngôn ngữ khác.

 

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 3/ Passage 3-

Điều gì đã xảy ra với nền văn minh Harappan?
Nghiên cứu mới làm sáng tỏ sự biến mất của một xã hội cổ đại

 

 

A

Nền văn minh Harappan của người Pakistan và Ấn Độ cổ đại phát triển mạnh mẽ (flourished) cách đây 5.000 năm, nhưng một nghìn năm sau các thành phố của họ bị bỏ hoang. Nền văn minh Harappan là một xã hội thời đại đồ đồng tinh tế, những người đã xây dựng các ‘siêu đô thị’ (megacities) và kinh doanh quốc tế các sản phẩm

thủ công xa xỉ, nhưng dường như hầu như không có mô tả về các món đồ này (left almost no depictions of themselves). Nhưng sự thiếu hình ảnh về chúng (But their lack of self-imagery) – vào thời điểm mà người Ai Cập đang chạm khắc và vẽ các hình đại diện của chính họ trên khắp các ngôi đền của họ – chỉ là một phần của bí ẩn.

B

Nhà khảo cổ học (archaeologist), Tiến sĩ Cameron Petrie của Đại học Cambridge, giải thích: “Có rất nhiều bằng chứng khảo cổ học cho chúng ta biết về sự tỏa sáng của Nền văn minh Harappan, nhưng bằng chứng về sự sụp đổ của nó thì tương đối ít ”. ‘Khi dân số tăng lên, các thành phố được xây dựng với những phòng tắm lớn, xưởng thủ công, cung điện và hội trường được bố trí theo các khu vực riêng biệt. Nhà ở được sắp xếp thành từng dãy nhà, có đường chính rộng và ngõ hẹp (narrow alleyways), nhiều nhà có giếng và hệ thống thoát nước (drainage systems) riêng. Đó rất là một nền văn minh “thịnh vượng”.’ Sau đó vào khoảng năm 2100 trước Công nguyên, một cuộc chuyển mình (transformation) bắt đầu. Đường phố trở nên ô uế, các tòa nhà bắt đầu bị bỏ hoang và các công trình cho nghi lễ không còn sử dụng được nữa. Sau sự sụp đổ (demise) cuối cùng của họ, một thiên niên kỷ đã trôi qua trước khi các thành phố thực sự quy mô lớn xuất hiện một lần nữa ở Nam Á.

C

Một số người cho rằng các con sông lớn được cấp nước từ sông băng đã thay đổi dòng chảy của chúng, ảnh hưởng đáng kể đến việc cung cấp nước và nông nghiệp; hoặc rằng các thành phố không thể đối phó với dân số ngày càng tăng, họ cạn kiệt nguồn tài nguyên của mình, nền kinh tế thương mại bị phá vỡ hoặc họ không chống chọi (succumbed) được với xâm lược và xung đột; và những người khác cho rằng biến đổi khí hậu gây ra thay đổi môi trường ảnh hưởng đến việc cung cấp thực phẩm và nước. “Không có khả năng là chỉ có một nguyên nhân duy nhất cho sự suy tàn của nền văn minh. Nhưng thực tế là, cho đến nay, chúng ta có rất ít bằng chứng chắc chắn (solid evidence) về khu vực này cho đến hầu hết các yếu tố chính khác’, Petrie nói. “Rất nhiều cuộc tranh luận về khảo cổ học thực sự chỉ là suy đoán được lập luận rõ ràng (well-argued speculation).”

D

Một nhóm nghiên cứu do Petrie đứng đầu, cùng với Tiến sĩ Ravindanath Singh của Đại học Banaras Hindu ở Ấn Độ, ngay từ đầu trong cuộc điều tra của họ đã phát hiện ra rằng nhiều địa điểm khảo cổ không phải là nơi chúng được cho là, hoàn toàn thay đổi hiểu biết về cách mà khu vực này sinh sống (inhabited) trong quá khứ. Khi họ thực hiện một cuộc khảo sát về cách một khu vực rộng lớn hơn định cư như thế nào liên quan đến nguồn nước, họ đã tìm thấy những điểm không chính xác về vị trí địa lý được công bố của các khu định cư cổ đại từ vài trăm mét đến nhiều km. Họ nhận ra rằng mọi nỗ lực sử dụng dữ liệu hiện có đều có thể bị sai sót về cơ bản (fundamentally flawed). Qua nhiều kì điều tra thực địa (seasons of fieldwork), họ đã tiến hành các cuộc khảo sát mới, tìm thấy 198 địa điểm định cư đáng kinh ngạc mà trước đây chưa được biết đến.

E

Giờ đây, nghiên cứu được công bố bởi Tiến sĩ Yama Dixit và Giáo sư David Hodell, cả hai đều từ Khoa Khoa học Trái đất của Cambridge, đã cung cấp bằng chứng xác thực đầu tiên (the first definitive evidence) cho việc biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến các vùng đồng bằng (plains) phía tây bắc Ấn Độ, nơi có hàng trăm địa điểm của Harappan được biết đến là đã định vị (are known to have been situated). Các nhà nghiên cứu đã thu thập vỏ của ốc sên Melanoides tuberculate từ trầm tích (sediments) của một hồ cổ và sử dụng phân tích địa hóa (geochemical analysis) như một phương tiện để truy tìm lịch sử khí hậu của khu vực. Dixit cho biết: “Ngày nay, nguồn nước chính vào hồ có thể là gió mùa (monsoon) mùa hè. “Nhưng chúng tôi đã quan sát thấy rằng có một sự thay đổi đột ngột vào khoảng 4.100 năm trước, khi lượng bốc hơi từ hồ vượt quá lượng mưa – dấu hiệu (indicative) của một đợt hạn hán.” Hodell cho biết thêm: “Chúng tôi ước tính rằng sự suy yếu của khí hậu gió mùa mùa hè ở Ấn Độ kéo dài khoảng 200 năm trước khi phục hồi trở lại các điều kiện trước đây, mà chúng ta vẫn thấy ngày nay. ‘

F

Từ lâu, người ta vẫn nghĩ rằng các nền văn minh vĩ đại khác của Thời đại đồ đồng cũng suy tàn vào thời điểm tương tự (declined at a similar time), với một sự kiện khí hậu quy mô toàn cầu được coi là nguyên nhân. Mặc dù có thể các quá trình quy mô địa phương (these local-scale processes) này được liên kết với nhau, nhưng mối quan tâm thực sự của khảo cổ học nằm ở việc tìm hiểu tác động của những sự kiện quy mô lớn hơn đối với các môi trường khác nhau và các quần thể khác nhau. Singh giải thích: “Xem xét khu vực rộng lớn của Nền văn minh Harappan với hệ thống thời tiết thay đổi của nó,” điều cần thiết là chúng tôi thu thập thêm dữ liệu khí hậu từ các khu vực gần hai thành phố lớn ở Mohenjodaro và Harappa và cũng từ Punjab của Ấn Độ. ”

G

Nhóm của Petrie và Singh hiện đang kiểm tra hồ sơ khảo cổ và cố gắng tìm hiểu chi tiết về cách con người sống trong khu vực cách đây 5 thiên niên kỷ. Họ đang phân tích các loại ngũ cốc (grains) được trồng vào thời điểm đó, và cố gắng tìm hiểu xem chúng có được trồng trong điều kiện khắc nghiệt về nước hay không và liệu họ có điều chỉnh sự kết hợp của các loại cây trồng mà họ đang trồng cho các hệ thống thời tiết khác nhau hay không. Các nhà khảo cổ cũng đang xem xét liệu các loại đồ gốm được sử dụng, và các khía cạnh khác của văn hóa vật chất của họ, là đặc trưng cho các khu vực cụ thể hay giống nhau hơn ở các khu vực lớn hơn. Điều này cho chúng tôi cái nhìn sâu sắc về các thể loại tương tác mà dân cư đã tham gia và liệu những khía cạnh đó có thay đổi hay không.

H

Petrie tin rằng các nhà khảo cổ học ở một vị trí độc nhất để điều tra xem các xã hội trong quá khứ đã phản ứng như thế nào với sự thay đổi môi trường và khí hậu. ‘Bằng cách điều tra các phản ứng đối với các áp lực và mối đe dọa môi trường, chúng ta có thể học hỏi từ quá khứ để đem vào cộng đồng, các cơ quan chính phủ và hành chính liên quan, chủ động hơn trong các vấn đề như quản lý và điều hành cung cấp nước, cân bằng đô thị và phát triển nông thôn, và tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa trong tương lai. ‘

 

 

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 4/ Passage 1-

Cutty Sark: tàu buồm nhanh nhất mọi thời đại

 

Thế kỷ 19 là thời kỳ phát triển công nghệ vượt bậc ở Anh, và đối với ngành vận chuyển, thay đổi từ năng lượng gió sang hơi nước, và từ gỗ sang sắt, thép là những thay đổi to lớn.

Những chiếc tàu buồm thương mại (commercial sailing vessels) nhanh nhất mọi thời đại là những chiếc tàu kéo, tàu ba cột buồm (three-masted ships) được chế tạo để vận chuyển hàng hóa đi khắp thế giới, mặc dù một số còn chở khách. Từ những năm 1840 cho đến năm 1869, khi kênh đào Suez mở cửa và động cơ hơi nước (steam propulsion) thay thế buồm,

những người đi tàu kéo thống trị thương mại thế giới. Mặc dù nhiều chiếc đã được chế tạo, nhưng chỉ một chiếc còn tồn tại nguyên vẹn ít nhiều: Cutty Sark, hiện được trưng bày ở Greenwich, đông nam London.

Cái tên khác thường của Cutty Sark bắt nguồn từ bài thơ Tam O’Shanter của nhà thơ Scotland, Robert Burns. Tam, một người nông dân bị một phù thủy tên là Nannie đuổi theo, người đang mặc ‘cutty sark’ – là một chiếc quần áo ngủ ngắn cũn cỡn của người Scotland. Phù thủy được mô tả trong hình vẽ bù nhìn của tàu Cutty Sark – là hình khắc một người phụ nữ thường ở phía trước các con tàu buồm cũ. Trong truyền thuyết và trong bài thơ của Burns, các phù thủy không thể vượt qua nước, vì vậy đây là một sự lựa chọn tên khá lạ cho một con tàu.

Tàu Cutty Sark được xây dựng ở Dumbarton, Scotland, vào năm 1869, cho một công ty vận tải biển do John Willis làm chủ. Để tiến hành xây dựng, Willis đã chọn một công ty đóng tàu mới, Scott & Linton, và đảm bảo rằng sự tương phản (contrast) với họ đã đặt anh ta vào một vị trí rất vững chắc. Cuối cùng, công ty buộc phải

ngừng kinh doanh, và con tàu đã được hoàn thiện bởi một đối thủ cạnh tranh.

Công ty của Willis hoạt động trong lĩnh vực buôn bán trà giữa Trung Quốc và Anh, nơi tốc độ có thể mang lại cho chủ tàu cả lợi nhuận và uy tín (prestige), vì vậy Cutty Sark được thiết kế để thực hiện chuyến đi nhanh hơn bất kỳ con tàu nào khác. Trong chuyến đi đầu tiên (maiden voyage) của mình, vào năm 1870, tàu đi từ Luân Đôn, mang theo một lượng lớn hàng hóa đến Trung Quốc. Cutty Sark thực hiện chuyến hành trình trở lại London sau bốn tháng với đầy trà. Tuy nhiên, Cutty Sark không bao giờ đáp ứng được (never lived up) sự kỳ vọng cao của chủ nhân, do hậu quả của những cơn cuồng phong và những điều bất hạnh khác (various misfortunes). Vào một dịp nọ, vào năm 1872, con tàu và một đối thủ cạnh tranh, Thermopylae, rời cảng ở Trung Quốc cùng ngày. Vượt qua Ấn Độ Dương, Cutty Sark đã đạt được một tốc độ hơn 400 dặm, nhưng sau đó bánh lái (rudder) của con tàu đã bị hư hại nặng nề trong cơn bão biển, làm cho Cutty Sark không thể để bẻ lái được nữa. Thủy thủ đoàn của con tàu có nhiệm vụ khó khăn (the daunting task) là sửa chữa bánh lái trên biển và chỉ thành công ở lần thử thứ hai. Cutty Sark đến London một tuần sau Thermopylae.

Tàu chạy bằng hơi nước là mối đe dọa ngày càng tăng đối với những tàu buồm, vì tốc độ và sức chuyên chở hàng hóa của chúng nhiều hơn. Ngoài ra, việc mở kênh đào Suez vào năm 1869, cùng năm mà Cutty Sark được hạ thủy, đã gây ra một tác động nghiêm trọng. Trong khi tàu chạy bằng hơi nước có thể tận dụng tuyến đường nhanh chóng, trực tiếp giữa Địa Trung Hải (Mediterranean)Biển Đỏ (Red Sea), kênh đào không dùng được cho tàu chạy bằng buồm, vốn cần gió mạnh của đại dương, và do đó tàu buồm phải trải qua một hành trình xa hơn. Tàu hơi nước đã giảm thời gian của hành trình giữa Anh và Trung Quốc xuống khoảng hai tháng.

Đến năm 1878, các nhà kinh doanh trà không còn hứng thú với Cutty Sark, và thay vào đó, tàu này đảm nhận công việc kém danh giá hơn nhiều là chở bất kỳ hàng hóa nào giữa hai cảng bất kỳ trên thế giới. Năm 1880, bạo lực trên con tàu cuối cùng dẫn đến việc thay thế thuyền trưởng bằng một kẻ say xỉn không đủ năng lực (incompetent drunkard), kẻ đã ăn cắp tiền lương của thủy thủ đoàn. Anh ta đã bị đình chỉ phục vụ và một đội trưởng mới được bổ nhiệm. Điều này đánh dấu bước chuyển mình (turnaround) và khởi đầu cho thời kỳ thành công nhất trong cuộc đời làm việc của Cutty Sark, vận chuyển len từ Úc đến Anh. Một cuộc hành trình như vậy chỉ mất chưa đầy 12 tuần, đánh bại mọi con tàu khác ra khơi cùng năm đó khoảng một tháng.

Thuyền trưởng tiếp theo của con tàu, Richard Woodget, là một hoa tiêu xuất sắc (an excellent navigator), người đã tận dụng tốt nhất cả con tàu và thủy thủ đoàn của mình. Là một con tàu buồm, Cutty Sark phụ thuộc vào gió mậu dịch mạnh ở Nam bán cầu, và Woodget đã đưa con tàu đi về phía nam xa hơn bất kỳ thuyền trưởng nào trước đó, đưa Cutty Sark đến gần những tảng băng trôi (icebergs) ngoài khơi cực nam của Nam Mỹ một cách nguy hiểm. Tuy nhiên, canh bạc của ông đã được đền đáp (gamble paid off) và con tàu là con tàu nhanh nhất trong ngành buôn bán len trong mười năm.

Khi sự cạnh tranh từ các tàu hơi nước gia tăng trong những năm 1890 và Cutty Sark đã gần hết tuổi thọ (approached the end of her life expectancy), tàu trở nên ít thu được lợi nhuận hơn. Cutty Sark đã được bán cho một công ty Bồ Đào Nha, hãng đổi tên thành Ferreira. Trong 25 năm tiếp theo, Ferreira lại chở những hàng hóa linh tinh (miscellaneous cargoes) đi khắp thế giới.

Trong lần bị hư hỏng nặng bởi một trận gió lớn vào năm 1922, Ferreira được đưa vào bến cảng Falmouth ở tây nam nước Anh để sửa chữa. Wilfred Dowman, một thuyền trưởng đã nghỉ hưu sở hữu một tàu huấn luyện, đã nhận ra Ferreira và cố gắng mua nó, nhưng không thành công. Ferreira trở về Bồ Đào Nha và được bán cho một công ty Bồ Đào Nha khác. Tuy nhiên, Dowman đã quyết tâm và đưa ra một mức giá cao: điều này đã được chấp nhận, con tàu quay trở lại Falmouth vào năm sau và được khôi phục lại tên ban đầu.

Dowman đã sử dụng Cutty Sark làm tàu huấn luyện, và nó tiếp tục đảm nhiệm vai trò này sau khi vị thuyền trưởng này qua đời. Khi không còn được yêu cầu nữa, vào năm 1954, nó được chuyển đến ụ tàu (dry dock) ở Greenwich để trưng bày trước công chúng (to go on public display). Con tàu bị hỏa hoạn vào năm 2007 và một lần nữa vào năm 2014  ít nghiêm trọng hơn, nhưng hiện Cutty Sark thu hút 1/4 triệu du khách mỗi năm.

 

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 4/ Passage 2-

Cứu lấy đất đai

Hơn một phần ba lớp đất bề mặt trên cùng của Trái đất đang gặp nguy hiểm. Liệu có hy vọng nào cho tài nguyên quý giá nhất hành tinh của chúng ta không?

 

A

Hơn một phần ba lớp đất trên bề mặt của thế giới đang bị đe dọa, theo một báo cáo gần đây của Liên Hợp Quốc. Nếu chúng ta không làm chậm sự suy giảm, tất cả đất có thể trồng trọt được sẽ biến mất trong vòng 60 năm nữa. Vì đất nuôi dưỡng 95% lương thực của chúng ta và duy trì sự sống của con người theo những cách khác đáng ngạc nhiên hơn, nên đó thực sự là một vấn đề rất lớn.

B

Peter Groffman, từ Viện Nghiên cứu Hệ sinh thái Cary ở New York, chỉ ra rằng các nhà khoa học về đất đã cảnh báo về sự suy thoái của đất trên thế giới (the degradation of the world’s soil) trong nhiều thập kỷ. Đồng thời, sự hiểu biết của chúng tôi về tầm quan trọng của nó đối với con người đã tăng lên. Một gam đất lành có thể chứa 100 triệu vi khuẩn, cũng như các vi sinh vật khác như vi rút và nấm, sống giữa các loại thực vật đang phân hủy và các khoáng chất khác nhau.

Điều đó có nghĩa là đất không chỉ phát triển lương thực của chúng ta mà còn là nguồn cung cấp gần như tất cả các loại kháng sinh hiện có (existing antibiotics) của chúng ta và có thể là hy vọng tốt nhất của chúng ta trong cuộc chiến chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh (antibiotic-resistant bacteria).

Đất cũng là một đồng minh (an ally) chống lại biến đổi khí hậu: khi các vi sinh vật trong đất tiêu hóa (digest) động vật và thực vật đã chết, chúng khóa hàm lượng cacbon của chúng, giữ lượng cacbon gấp ba lần toàn bộ khí quyển. Đất cũng tích trữ nước, ngăn ngừa thiệt hại do lũ lụt: ở Anh, thiệt hại đối với các tòa nhà, đường xá và cầu cống bị phá hoại do cơn lũ gây ra bởi sự suy thoái đất là 233 triệu bảng mỗi năm.

C

Nếu đất mất khả năng thực hiện những chức năng này, loài người có thể gặp rắc rối lớn. Điều nguy hiểm không phải là đất sẽ biến mất hoàn toàn mà là các vi sinh vật mang lại cho nó những đặc tính đặc biệt của nó sẽ bị mất đi. Và một khi điều này đã xảy ra, đất có thể mất hàng nghìn năm để phục hồi.

Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là vấn đề lớn nhất. Trong tự nhiên, khi cây phát triển, chúng lấy đi các chất dinh dưỡng trong đất, nhưng sau đó khi cây chết và thối rữa, các chất dinh dưỡng này sẽ được trả lại trực tiếp cho đất.

Con người có xu hướng không trả lại trực tiếp những phần không sử dụng của cây trồng đã thu hoạch vào đất để làm giàu dinh dưỡng cho đất, có nghĩa là đất dần trở nên kém màu mỡ (fertile). Trong quá khứ, chúng ta đã phát triển các chiến lược để giải quyết vấn đề, chẳng hạn như thường xuyên thay đổi các loại cây trồng hoặc để ruộng không được canh tác (uncultivated) trong một mùa vụ.

D

Nhưng những thực hành này trở nên bất tiện khi dân số tăng lên và nông nghiệp phải chạy trên các dây chuyền thương mại nhiều hơn. Vào đầu thế kỷ 20, một giải pháp đã được đưa ra với quy trình sản xuất amoni nitrat của Haber-Bosch. Nông dân đã đưa loại phân tổng hợp (synthetic fertilizer) này vào ruộng của họ kể từ lúc đó.

Nhưng trong vài thập kỷ qua, rõ ràng đây không phải là một ý tưởng sáng suốt. Phân bón hóa học có thể giải phóng oxit nitơ gây ô nhiễm vào khí quyển và lượng dư thừa thường bị rửa trôi theo mưa, giải phóng nitơ xuống sông. Gần đây hơn, chúng tôi phát hiện ra rằng việc sử dụng phân bón bừa bãi làm tổn hại đến chính đất, biến nó thành chua và mặn, và làm suy thoái (degrading) đất mà chúng lại thường được hiểu là nuôi dưỡng đất.

E

Một trong những người đang tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của riêng mình là Pius Floris, người bắt đầu điều hành một doanh nghiệp chăm sóc cây (a tree-care business) ở Hà Lan và hiện đang tư vấn cho một số nhà khoa học về đất hàng đầu trên thế giới. Ông nhận ra rằng, cách tốt nhất để đảm bảo cây cối của ông phát triển tươi tốt, là chăm sóc đất và đã phát triển một hỗn hợp vi khuẩn có lợi, nấm và mùn* (fungi and humus*) để làm điều này. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Valladolid ở Tây Ban Nha gần đây đã sử dụng loại hỗn hợp này trên các loại đất bị phá hủy do sử dụng quá nhiều phân bón trong nhiều năm (by years of fertiliser overuse). Khi họ sửdụng hỗn hợp của Floris cho các ô thử nghiệm giống như sa mạc, một loại cây trồng tốt đã xuất hiện không chỉ khỏe mạnh ở bề mặt mà còn có rễ đủ mạnh để đâm xuyên (pierce) bụi bẩn cứng như đá. Một số cây trồng trong ô đối chứng, được bón phân truyền thống, phát triển nhỏ và yếu.

F

Tuy nhiên, những biện pháp như thế này vẫn chưa đủ để giải quyết vấn đề thoái hóa đất toàn cầu (the global soil degradation problem). Để đánh giá các lựa chọn của chúng tôi trên quy mô toàn cầu, trước tiên, chúng tôi cần một bức tranh chính xác về những loại đất có ở đó và những vấn đề mà chúng phải đối mặt. Điều đó không dễ dàng. Có điều, không có một hệ thống thống nhất quốc tế để phân loại đất. Trong một nỗ lực nhằm thống nhất các phương pháp tiếp cận khác nhau (unify the different approaches), LHQ đã lập ra dự án Bản đồ đất toàn cầu (Global Soil Map project). Các nhà nghiên cứu từ chín quốc gia đang làm việc cùng nhau để tạo ra một bản đồ được liên kết với một cơ sở dữ liệu có thể được cung cấp các phép đo từ khảo sát thực địa, khảo sát bằng máy bay không người lái, hình ảnh vệ tinh, phân tích thang, v.v. để cung cấp dữ liệu thời gian thực (real-time data) về trạng thái của đất. Trong vòng bốn năm tới, họ đặt mục tiêu lập bản đồ các loại đất trên toàn thế giới ở độ sâu 100 mét, tất cả mọi người có thể truy cập miễn phí bản đồ này.

G

Nhưng đây chỉ là bước đầu tiên. Pamela Chasek tại Viện Phát triển Bền vững Quốc tế (International Institute for Sustainable Development), ở Winnipeg, Canada, cho biết chúng ta cần có những cách trình bày vấn đề để đưa vấn đề đến với chính phủ và công chúng. “Hầu hết các nhà khoa học không nói được ngôn ngữ mà các nhà hoạch định chính sách có thể hiểu được và ngược lại”. Chasek và các đồng nghiệp của cô đã đề xuất mục tiêu “không làm suy thoái đất”. Giống như ý tưởng về tính trung hòa carbon, đây là một mục tiêu dễ hiểu có thể giúp hình thành kỳ vọng và khuyến khích hành động.

Đối với đất trên bờ vực (For soils on the brink), điều đó có thể là quá muộn. Một số nhà nghiên cứu đang thảo luận (agitating) việc tạo ngay các khu bảo vệ cho các loại đất có nguy cơ tuyệt chủng. Một khó khăn ở đây là xác định những khu vực nào nên bảo tồn: khu vực nào có sự đa dạng về đất lớn nhất? Hay những khu vực đất còn nguyên sơ có thể hoạt động như một tiêu chuẩn chất lượng trong tương lai (future benchmark of quality)?

Dù chúng ta làm gì, nếu chúng ta muốn đất của chúng ta tồn tại, chúng ta cần phải hành động ngay bây giờ.

 

 

 

 

-Theo Cambridge 13/Test 4/ Passage 3-

Đánh giá sách

Hạnh phúc công nghiệp: Chính phủ và doanh nghiệp lớn đã bán cho hạnh phúc chúng ta như thế nào

Bởi William Davies

 

‘Hạnh phúc là cùng đích trong cuộc đời vì nó hiển nhiên là tốt. Nếu được hỏi tại sao hạnh phúc lại quan trọng, chúng ta không thể đưa ra thêm lý do nào. Nó chỉ rõ ràng là quan trọng’. Tuyên bố tóm tắt niềm tin của nhiều người ngày nay này là của Richard Layard, một nhà kinh tế học và người ủng hộ (advocate) “tâm lý học tích cực” (‘positive psychology’). Đối với Layard và những người khác như anh ta, rõ ràng mục đích của chính phủ là thúc đẩy trạng thái hạnh phúc tập thể (a state of collective well-being). Câu hỏi duy nhất là làm thế nào để đạt được nó, và ở đây tâm lý học tích cực – một môn khoa học được cho là không chỉ xác định điều gì khiến con người hạnh phúc mà còn cho phép đo lường hạnh phúc của họ – có thể chỉ ra con đường. Họ nói rằng các chính phủ có thể đảm bảo hạnh phúc trong xã hội theo cách mà trước đây họ chưa từng có khi được trang bị khoa học này.

Đó là một lối suy nghĩ thô thiển và đơn giản một cách đáng kinh ngạc, và vì lý do đó ngày càng phổ biến. Những người suy nghĩ theo cách này không biết gì (are oblivious to) về tài liệu triết học rộng lớn trong đó ý nghĩa và giá trị của hạnh phúc đã được khám phá và đặt câu hỏi, và viết như thể không có gì quan trọng về chủ đề này cho đến khi họ chú ý đến.  Chính triết gia Jeremy Bentham (1748-1832) là người hơn ai hết chịu trách nhiệm về sự phát triển của lối tư duy này. Đối với Bentham, hiển nhiên rằng lợi ích của con người bao gồm niềm vui và sự vắng mặt của nỗi đau. Nhà triết học Hy Lạp Aristotle có thể đã xác định hạnh phúc cùng với sự tự nhận thức (self-realisation) vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, và các nhà tư tưởng (thinkers) trong suốt các thời đại có thể đã đấu tranh để dung hòa (reconcile) việc theo đuổi hạnh phúc với các giá trị khác của con người, nhưng đối với Bentham, tất cả điều này chỉ là siêu hình (metaphysics) hoặc hư cấu (fiction). Không biết gì nhiều về ông ta hay trường phái lý thuyết đạo đức mà ông ta đã thiết lập – nền giáo dục và niềm tin trí thức của các lý thuyết này và cả chính ông ta thì mù mờ về các ý tưởng lịch sử từ lâu – Những người ủng hộ tâm lý học tích cực chúng tôi đã dõi theo đường lối của ông ấy khi bác bỏ những suy nghĩ lỗi thời và không liên quan đến toàn bộ sự phản ánh đạo đức về hạnh phúc của con người cho đến nay

Nhưng khi William Davies đã lưu ý trong cuốn sách gần đây của ông, The Happiness Industry, quan điểm rằng hạnh phúc là điều tốt đẹp tự nhiên duy nhất thực sự là một cách hạn chế nghi vấn về đạo đức. Một trong những ưu điểm của cuốn sách phong phú, sáng suốt và hấp dẫn này là nó đặt sự sùng bái hạnh phúc (cult of happiness) hiện tại vào một khuôn khổ lịch sử được xác định rõ ràng. Đúng vậy, Davies kể câu chuyện của anh ấy với Bentham, lưu ý rằng anh ấy còn hơn cả một nhà triết học (philosopher). Davies viết, “Các hoạt động của Bentham là những hoạt động mà bây giờ chúng tôi có thể liên kết với một nhà tư vấn quản lý khu vực công”. Vào những năm 1790, ông đã viết thư cho Bộ Nội vụ đề nghị rằng các bộ của chính phủ được liên kết với nhau thông qua một bộ ‘ống hội thoại’ (‘conversation tubes’) và viết một thiết kế cho Ngân hàng Anh về một thiết bị in có thể sản xuất tiền giấy không thể làm giả được (unforgeable banknotes). Ông đã lên kế hoạch cho một “phòng tắm lạnh (frigidarium)” để giữ cho các thực phẩm (provisions) như thịt, cá, trái cây và rau luôn tươi ngon. Thiết kế nổi tiếng của ông cho một nhà tù được biết đến với cái tên ‘Panopticon’ gần như đã được chấp nhận, trong đó các tù nhân sẽ bị biệt giam (solitary confinement) trong khi lính canh luôn có thể nhìn thấy được. (Đáng ngạc nhiên, Davies không thảo luận về việc Bentham muốn nói rằng Panopticon của ông không chỉ là một nhà tù kiểu mẫu (model prison) mà còn là một công cụ kiểm soát có thể được áp dụng cho các trường học và nhà máy.)

Bentham cũng là nhà tiên phong trong ‘khoa học về hạnh phúc’. Nếu hạnh phúc được coi là một khoa học, thì nó phải được đo lường, và Bentham đề xuất hai cách để có thể thực hiện được điều này. Ông cho rằng hạnh phúc là một phức hợp (complex) của những cảm giác sảng khoái, ông cho rằng nó có thể được định lượng bằng cách đo nhịp tim (pulse rate) của con người. Ngoài ra, tiền có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn để định lượng (as the standard for quantification): nếu hai hàng hóa khác nhau có cùng mức giá, thì có thể khẳng định rằng chúng tạo ra cùng một lượng khoái cảm cho người tiêu dùng. Bentham bị thu hút hơn bởi biện pháp thứ hai. Davies viết: Bằng cách liên kết chặt chẽ tiền bạc với trải nghiệm nội tâm, Bentham đã ‘tạo tiền đề cho sự vướng mắc của nghiên cứu tâm lý học và chủ nghĩa tư bản, định hình nên các phương thức kinh doanh của thế kỷ XX’.

Sách The Happiness Industry mô tả cách dự án khoa học về hạnh phúc đã trở thành một phần không thể thiếu đối với (integral to) chủ nghĩa tư bản. Chúng tôi học được nhiều điều thú vị về cách các vấn đề kinh tế đang được định nghĩa lại (redefined) và được coi như những căn bệnh tâm lý (psychological maladies).

Thêm vào đó, Davies cho thấy niềm tin rằng niềm vui và bất hạnh nội tâm có thể được đo lường một cách khách quan để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu quản trị và quảng cáo như thế nào. Xu hướng của các nhà tư tưởng như J B Watson, người sáng lập ra chủ nghĩa hành vi* (behaviourism), là con người có thể được định hình hoặc thao túng bởi các nhà hoạch định chính sách và quản lý. Watson không có cơ sở thực tế cho quan điểm của mình về hành động của con người. Khi trở thành chủ tịch của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ vào năm 1915,’ông ấy thậm chí chưa từng nghiên cứu về hạnh phúc của con người’: nghiên cứu của ông chỉ giới hạn trong các thí nghiệm trên chuột cống trắng. Tuy nhiên, mô hình giảm thiểu của Watson hiện đang được áp dụng rộng rãi, với việc ‘thay đổi hành vi’ đang trở thành mục tiêu của các chính phủ: ở Anh, chính phủ đã thành lập một ‘Behaviour Insights Team’ nghiên cứu cách có thể khuyến khích được mọi người sống theo những cách được coi là mong muốn của xã hội, với chi phí tối thiểu của túi tiền công.

Các xã hội công nghiệp hiện đại dường như cần khả năng gia tăng hạnh phúc để thúc đẩy thị trường lao động của chính nó. Nhưng bất kể nguồn gốc trí tuệ của nó là gì, ý tưởng rằng các chính phủ phải có trách nhiệm thúc đẩy hạnh phúc luôn là mối đe dọa đối với tự do của con người.

———————–
* ‘behaviourism’: một nhánh của tâm lý học liên quan đến hành vi có thể quan sát được

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *