Recent Posts

IELTS – 14

-Theo Cambridge 14 /Test 1/ Passage 1-

 

TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRÒ CHƠI TRẺ EM

Xếp từng viên gạch, Alice sáu tuổi đang xây dựng một vương quốc phép thuật. Tưởng tượng những tháp pháo trong truyện cổ tích và những con rồng thở ra lửa, những phù thủy độc ác và những vị anh hùng dũng cảm, cô bé đang tạo ra một thế giới đầy mê hoặc. Mặc dù cô bé ấy không nhận thức được, nhưng sự tưởng tượng này đang giúp Alice bước những bước đầu tiên đến khả năng sáng tạo và vì vậy việc chơi đùa này sẽ mang đến những thành quả quan trọng trong cuộc sống trưởng thành của cô bé sau này.

Vài phút sau, Alice đã rời bỏ vương quốc phép thuật để chơi trò trường học với em trai. Khi cô bé chỉ huy cậu em trai với tư cách là ‘giáo viên của em mình”, cô bé thực hành cách điều chỉnh cảm xúc của mình thông qua sự giả vờ làm giáo viên. Sau đó, khi cả hai mệt nhoài với trò  này thì chúng ngồi yên để chơi trò cờ bàn, cô bé Alice lúc này đang học về sự cần thiết phải tuân theo các quy tắc và luật chơi thay phiên nhau với cậu em trai.

“Hình thức chơi đùa trong tất cả sự đa dạng phong phú của các trò chơi là một trong những thành tựu cao nhất của loài người”, ông David Whitebread thuộc Khoa Giáo dục tại Đại học Cambridge, Vương quốc Anh, nói. “Nó củng cố cách chúng ta phát triển như một người trưởng thành có trí tuệ, giải quyết vấn đề và rất quan trọng đối với thành công của chúng ta – là loài có khả năng thích nghi cao.”

Nhận thức về tầm quan trọng của trò chơi không phải là mới: hơn hai thiên niên kỷ trước, nhà triết học Hy Lạp Plato đã ca ngợi phẩm chất của trò chơi như một phương diện phát triển các kỹ năng cho cuộc sống trưởng thành và những ý tưởng về học tập dựa trên hành vi chơi đùa đã được phát triển từ thế kỷ 19.

Nhưng chúng ta đang sống trong thời đại thay đổi, và Whitebread rất chú ý đến sự suy giảm lượng thời gian dành cho việc chơi đùa trên toàn thế giới, chỉ thẳng vào thời gian dành cho vui chơi của hơn một nửa số người trên thế giới hiện đang sống ở các thành phố. “Cơ hội để tự do vui chơi, điều mà tôi đã được trải nghiệm gần như mỗi ngày trong thời thơ ấu của mình, đang ngày càng trở nên khan hiếm”, ông nói. Trò chơi ngoài trời bị hạn chế bởi nhận thức của con người về rủi ro khi tham gia giao thông, cũng như mong muốn gia tăng từ các bậc cha mẹ về việc bảo vệ con cái họ không phải là nạn nhân của tội phạm, và việc nhấn mạnh rằng  ‘sớm hơn là tốt hơn’ dẫn đến sự cạnh tranh lớn hơn trong học thuật và trường học.

Các cơ quan quốc tế như Liên Hợp Quốc và Liên minh châu Âu đã bắt đầu xây dựng các chính sách liên quan đến quyền được chơi đùa của trẻ em, và xem xét các tác động đối với các cơ sở giải trí và các chương trình giáo dục. Nhưng những gì họ thường thiếu là bằng chứng để làm các chính sách cơ sở.

Hình thức chơi đùa mà chúng ta quan tâm là loại trò chơi do trẻ em tự khởi xướng, tự phát và không thể đoán trước được – nhưng, ngay khi bạn yêu cầu một đứa trẻ 5 tuổi chơi trò chơi, thì bạn, với tư cách là nhà nghiên cứu, đã can thiệp vào rồi, bác sĩ Sara Baker giải thích. “Và chúng tôi muốn biết tác động lâu dài của trò chơi là gì. Đó là một thử thách thực sự.”

Tiến sĩ Jenny Gibson đồng tình, ông chỉ ra rằng mặc dù một số bước trong câu đố về cách thức chơi đùa và lý do tại sao việc chơi trò chơi lại quan trọng, đã được xem xét, nhưng có rất ít dữ liệu về tác động của nó đối với cuộc sống sau này của trẻ con.

Giờ đây, nhờ vào Trung tâm nghiên cứu về Giáo Dục, Phát Triển và Học Tập mới (PEDAL), Whitebread, Baker, Gibson và một nhóm các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ cung cấp bằng chứng về vai trò của trò chơi trong cách trẻ phát triển bản thân.

“Một khả năng chắc chắn là trò chơi hỗ trợ sự phát triển ban đầu của sự tự kiểm soát ở trẻ em”, ông giải thích Baker. Đây là khả năng của chúng ta để phát triển nhận thức về tiến trình suy nghĩ của chính chúng ta – nó ảnh hưởng đến việc chúng ta thực hiện các hoạt động đầy thách thức một cách hiệu quả như thế nào.

Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Baker với trẻ mới biết đi và trẻ mẫu giáo trẻ, cô phát hiện ra rằng trẻ em có khả năng tự kiểm soát tốt hơn đã giải quyết vấn đề nhanh hơn khi khám phá một trật tự lạ lẫm đòi hỏi lý luận khoa học. “Loại bằng chứng này tạo nên suy nghĩ rằng, về lâu về dài, cho trẻ em cơ hội chơi đùa sẽ giúp chúng giải quyết vấn đề một cách thành công hơn.”

Theo các nhà nghiên cứu, nếu các kinh nghiệm vui chơi tạo điều kiện thuận lợi cho khía cạnh này phát triển, nó có thể cực kỳ có ý nghĩa đối với giáo dục thực tiễn, bởi vì khả năng tự điều chỉnh đã được chứng minh là yếu tố dự báo chính về kết quả học tập.

Gibson cho biết thêm: “Hành vi mang đến sự vui tươi cũng là một chỉ số quan trọng cho sự phát triển yếu tố xã hội và cảm xúc lành mạnh. Trong nghiên cứu trước đây của tôi, tôi đã điều tra việc quan sát trẻ em khi chúng chơi đùa có thể cho chúng ta manh mối quan trọng về sức khỏe của chúng và thậm chí có thể hữu ích trong chẩn đoán rối loạn phát triển thần kinh như tự kỷ.”

Nghiên cứu gần đây của Whitebread liên quan đến việc phát triển một phương cách tiếp cận dựa trên trò chơi để hỗ trợ trẻ em viết chữ. “Nhiều học sinh tiểu học cảm thấy viết khó, nhưng chúng tôi đã cho thấy trong một nghiên cứu trước đây rằng một trò chơi có tính kích thích, sẽ có hiệu quả hơn nhiều so với một bản hướng dẫn. Trẻ em đã viết những câu chuyện dài hơn và có cấu trúc tốt hơn khi lần đầu tiên chơi với búp bê đại diện cho các nhân vật trong câu chuyện. Trong nghiên cứu mới nhất, trẻ em lần đầu tiên tạo ra câu chuyện của mình bằng việc chơi Lego *, cũng cho kết quả tương tự”. “Nhiều giáo viên nhận xét rằng trước đây họ luôn có học sinh nói rằng chúng không biết phải viết gì. Tuy nhiên, với trò lắp ghép nhà bằng Lego, không một đứa trẻ nào nói điều này trong suốt cả năm của dự án.”

Whitebread, người chỉ đạo PEDAL, được đào tạo thành một giáo viên tiểu học vào đầu những năm 1970, thời điểm mà theo như ông mô tả là, ‘việc dạy dỗ trẻ nhỏ phần lớn là một cuộc lội ngược dòng yên tĩnh, không bị tranh cãi bởi bất kỳ cuộc tranh luận hay tranh cãi nghiêm trọng nào.’ Bây giờ, bối cảnh thì khác xa, việc dạy dỗ được tranh luận một cách sôi nổi về mọi chủ đề, ví dụ như tuổi bắt đầu đi học.

Bằng cách nào đó tầm quan trọng của trò chơi đã bị mất đi trong những thập kỷ gần đây. Nó như là một thứ gì đó tầm thường, hoặc thậm chí là một thứ gì đó tương phản với “công việc”. Hãy đừng để mất đi lợi ích của các trò chơi và những đóng góp nền tảng của nó cho thành tựu của con người trong lĩnh vực nghệ thuật, khoa học và công nghệ. Hãy chắc chắn rằng trẻ em có được một chế độ món ăn tinh thần hàng ngày – đó là trải nghiệm được vui chơi.

* Lego: khối lắp ghép xây dựng bằng nhựa màu và các mảnh khác có thể được nối với nhau.

 

-Theo Cambridge 14/Test 1/ Passage 2-

 

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ HOẠCH CHIA-SẺ-XE- ĐẠP TRÊN TOÀN THẾ GIỚI 

Kỹ sư người Hà Lan Luud Schimmelpennink đã giúp đưa ra các kế hoạch chia sẻ xe đạp ở khu đô thị như thế nào

A. Ý tưởng ban đầu cho kế hoạch chia-sẻ-xe-đạp ở khu đô thị bắt nguồn từ một ngày hè mùa hè ở Amsterdam năm 1965. Provo, tổ chức đưa ra ý tưởng này, là một nhóm các nhà hoạt động người Hà Lan muốn thay đổi xã hội. Họ tin rằng kế hoạch này, được biết đến với cái tên Witte Fietsenplan, là câu trả lời cho các mối đe dọa về ô nhiễm không khí và chủ nghĩa tiêu dùng. Ở trung tâm Amsterdam, họ đã sơn một số lượng nhỏ xe đạp đã qua sử dụng thành màu trắng. Họ cũng phát tờ rơi mô tả sự nguy hiểm của ô tô và mời mọi người sử dụng xe đạp màu trắng. Những chiếc xe đạp sau đó đã được mở khóa tại nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố, được sử dụng cho bất cứ ai có nhu cầu vận chuyển.

B. Luud Schimmelpennink, một kỹ sư công nghiệp người Hà Lan vẫn sống và đạp xe ở Amsterdam, đã tham gia rất nhiều vào kế hoạch ban đầu. Anh nhớ lại cách thức mà kế hoạch ban đầu đã đạt được thành công trong việc thu hút rất nhiều sự chú ý – đặc biệt là khi công khai các mục tiêu của Provo – nhưng lại bị mắc kẹt để hiện thực hóa. Cảnh sát đã phản đối các sáng kiến của Provo và gần như ngay lập tức loại bỏ chúng khi những chiếc xe đạp màu trắng được phân phối xung quanh thành phố. Tuy nhiên, đối với Schimmelpennink và cho các chương trình chia sẻ xe đạp nói chung, đây mới chỉ là khởi đầu. Dự án Witte Fietsenplan đầu tiên chỉ là một thứ mang tính biểu tượng, ông nói. Chúng tôi đã sơn một vài chiếc xe đạp màu trắng, tất cả chỉ có vậy. Mọi thứ trở nên nghiêm túc hơn khi tôi trở thành thành viên của hội đồng thành phố Amsterdam hai năm sau đó.”

C. Schimmelpennink đã nắm bắt cơ hội này để trình bày một Witte Fietsenplan trau chuốt hơn cho hội đồng thành phố. “Ý tưởng của tôi là thành phố Amsterdam sẽ phân phối 10.000 chiếc xe đạp màu trắng trên toàn thành phố, cho mọi người sử dụng”, ông giải thích. “Tôi đã tính toán nghiêm túc. Hóa ra, một chiếc xe đạp màu trắng – mỗi người, mỗi km – sẽ khiến thành phố chỉ tốn 10% so với những gì nó đóng góp cho giao thông công cộng mỗi người trên mỗi km”. Tuy nhiên, toàn bộ hội đồng đã nhất trí từ chối kế hoạch này. “Họ nói rằng chiếc xe đạp thuộc về quá khứ. Họ nhìn thấy một tương lai huy hoàng cho chiếc xe hơi”, ông Schimmelpennink nói. Nhưng chí ít thì anh đã không nản chí.

D. Schimmelpennink không bao giờ ngừng tin vào việc chia sẻ xe đạp, và vào giữa những năm 90, hai anh em nhà Danes đã nhờ anh giúp đỡ để thiết lập một hệ thống ở Copenhagen. Đây là thành quả của chương trình chia sẻ xe đạp quy mô lớn đầu tiên trên thế giới. Nó hoạt động trên một khoản tiền gửi: ‘Bạn đã bỏ một đồng xu trong xe đạp và khi bạn trả lại xe đạp, bạn nhận lại được tiền của mình.’ Sau khi thiết lập hệ thống cho Đan Mạch, Schimmelpennink quyết định thử lại vận may ở Hà Lan – và lần này anh đã thành công trong việc khơi dậy sự quan tâm của Bộ Giao thông vận tải Hà Lan. Thời gian đã thay đổi, ông nhớ lại. Mọi người đã trở nên có ý thức về môi trường hơn, và thí nghiệm của Đan Mạch đã chứng minh rằng việc chia sẻ xe đạp là một khả năng thực sự. Tuy nhiên, đi xe đạp trắng không còn miễn phí nữa; bạn phải trả một guilder (đồng florin hà lan của châu Âu) cho mỗi chuyến đi và thanh toán được thực hiện bằng thẻ chip được phát triển bởi ngân hàng Postbank của Hà Lan. Schimmelpennink đã thiết kế những chiếc xe đạp màu trắng mạnh mẽ, dễ nhìn được khóa trong các giá đỡ đặc biệt có thể mở bằng thẻ chip – kế hoạch bắt đầu với 250 chiếc xe đạp, được phân phối tại năm trạm.

E. Theo Molenaar, người thiết kế hệ thống cho dự án, đã làm việc cùng với Schimmelpennink. Tôi nhớ khi chúng tôi đang thử nghiệm giá đỡ xe đạp, anh ấy tuyên bố rằng anh ấy đã thiết kế những cái tốt hơn. Nhưng tất nhiên, chúng tôi đành phải dùng những thứ mà chúng tôi sẵn có khi đó”. Tuy nhiên, hệ thống này dễ dàng bị phá hoại và mất cắp. Sau mỗi cuối tuần, sẽ luôn có một vài chiếc xe đạp bị mất tích. Tôi thực sự không biết mọi người đã làm gì với chúng, bởi vì chúng có thể ngay lập tức nhận ra được vì là xe đạp trắng. Nhưng đòn giáng lớn nhất xảy ra khi Postbank quyết định bãi bỏ thẻ chip, vì nó không sinh lãi. “Thẻ chip đó là mấu chốt của hệ thống”, ông Mol Molarar nói. “Để tiếp tục dự án, chúng tôi cần phải thiết lập một hệ thống khác, nhưng đối tác kinh doanh đã mất hứng thú“.

F. Schimmelpennink đã rất thất vọng, nhưng – với tính cách đặc trưng của ông – thì ông không thất vọng lâu. Năm 2002, ông nhận được một cuộc gọi từ tập đoàn quảng cáo Pháp JC Decaux, người muốn thiết lập chương trình chia sẻ xe đạp của mình ở Vienna. Điều đó đã thực sự tốt. Sau Vienna, họ thiết lập một hệ thống ở Lyon. Sau đó vào năm 2007, Paris theo sau. Đó là một thời điểm quyết định trong lịch sử chia sẻ xe đạp. ‘Thành công to lớn và bất ngờ của chương trình chia sẻ xe đạp ở Paris, nơi hiện có hơn 20.000 xe đạp, đã truyền cảm hứng cho các thành phố trên khắp thế giới để thiết lập các kế hoạch của riêng họ, tất cả đều được mô phỏng trên ý tưởng của Schimmelpennink. Thật tuyệt vời khi điều này xảy ra, ông nói. Nhưng về mặt tài chính, tôi đã thực sự không hưởng lợi từ nó, bởi vì tôi chưa bao giờ nộp đơn xin cấp bằng sáng chế.

G. Tại Amsterdam ngày nay, 38% tất cả các chuyến đi được thực hiện bằng xe đạp và cùng với Copenhagen, nó được coi là một trong hai thủ đô đi xe đạp thân thiện nhất trên thế giới – nhưng toàn thành phố lại không có một chiếc xe đạp trắng Witte Fietsenplan nào cả. Molenaar tin rằng điều này có thể là do mọi người ở Amsterdam đã có một chiếc xe đạp riêng cho họ rồi. Tuy nhiên, Schimmelpennink không thể thấy rằng điều này đã thay đổi nhu cầu của Amsterdam đối với chương trình chia sẻ xe đạp như thế nào. “Những người đi du lịch dưới lòng đất thuờng không mang xe đạp đi khắp nơi. Nhưng thường thì họ cần thêm phương tiện để di chuyển đến đích cuối cùng”. Mặc dù anh ấy nghĩ một thành phố như Amsterdam mà lại không thành công trong kế hoạch chia sẻ xe đạp thì thật là kì lạ, nhưng anh ấy vẫn lạc quan về điều này trong tương lai. Vào những năm 60, chúng tôi đã không có cơ hội vì mọi người đã sẵn sàng hiến mạng sống của mình để giữ xe bốn bánh trong thành phố. Nhưng tâm lý đó đã hoàn toàn thay đổi. Ngày nay mọi người đều khao khát những thành phố không bị ô tô thống trị.

 

 

-Theo Cambridge 14/Test 1/ Passage 3-

 

YẾU TỐ TẠO ĐỘNG LỰC VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

Một thành phần quan trọng trong sự thành công của các khách sạn là phát triển và duy trì hiệu suất làm việc vượt trội từ nhân viên của họ. Vậy thì như thế nào là làm việc xuất sắc? Tổ chức quản lý nguồn nhân lực (HRM) nên tổ chức đầu tư vào cái gì để nhận được và giữ chân những nhân viên giỏi?

Một số khách sạn dự định cung cấp điều kiện làm việc ưu việt cho nhân viên của họ. Ý tưởng này bắt nguồn từ nơi làm việc – thường là trong lĩnh vực phi dịch vụ – nhấn mạnh niềm vui và sự thích thú như một phần của sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Nhưng ngược lại, trong lĩnh vực dịch vụ, và cụ thể hơn là ngành công nghiệp khách sạn, thì họ vẫn theo truyền thống là không gia tăng những hoạt động thường lệ này để giải quyết các nhu cầu cơ bản của nhân viên, như là điều kiện làm việc tốt.

Pfeffer (1994) nhấn mạnh rằng để thành công trong môi trường kinh doanh toàn cầu, các tổ chức phải đầu tư vào Quản lý nguồn nhân lực (HRM) để cho phép họ nhận được những nhân viên có kỹ năng và năng lực tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Khoản đầu tư này sẽ là lợi thế cạnh tranh của họ. Mặc dù nhận ra tầm quan trọng của sự phát triển nhân viên, ngành công nghiệp khách sạn trong lịch sử đã bị chi phối bởi các hoạt động nhân sự thông thường kém phát triển (Lucas, 2002)

Lucas cũng chỉ ra rằng, bản chất của các hoạt động HRM thông thường dường như không được thiết kế để thúc đẩy mối quan hệ mang tính xây dựng với nhân viên hoặc thể hiện sự tiếp xúc ở cấp quản lý, điều mà sẽ cho phép phát triển và phát huy hết tiềm năng của mọi người, mặc dù nhân viên có thể hài lòng chung chung với các khía cạnh trong công việc của họ ‘(Lucas, 2002). Thêm vào đó, hoặc có thể là do sự đào thải cao đã là một vấn đề tái diễn trong toàn ngành khách sạn. Trong số nhiều lý do được trích dẫn là lương thưởng thấp, lợi ích không đầy đủ, điều kiện làm việc kém, tinh thần và thái độ của nhân viên bị tổn hại (Maroudas et al., 2008).

Ng và Sorensen (2008) đã chứng minh rằng khi các nhà quản lý cung cấp sự công nhận cho nhân viên, thúc đẩy nhân viên làm việc cùng nhau và loại bỏ các trở ngại – những thứ ngăn chặn hiệu quả công việc, nhân viên cảm thấy có nhiều nghĩa vụ ở lại với công ty. Điều này đã được tóm tắt ngắn gọn bởi Michel et al. (2013): [P] hỗ trợ cho nhân viên giúp họ tự tin thực hiện công việc tốt hơn và động lực để ở lại với tổ chức. Do đó, các tổ chức của ngành khách sạn có thể gia tăng động lực cho nhân viên và duy trì thông qua việc phát triển và cải thiện điều kiện làm việc của họ. Những điều kiện này vốn đã được liên kết với môi trường làm việc.

Mặc dù, dường như phản ứng của các nhân viên với các đặc trưng trong công việc của họ có thể bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng quan niệm về môi trường mà họ đang làm việc một cách tiêu cực, không có bằng chứng nào tồn tại để ủng hộ giả thuyết này (Spector et al., 2000). Tuy nhiên, khi có cơ hội, nhiều người sẽ tìm thấy điều gì đó để phàn nàn liên quan đến nơi làm việc của họ (Poulston, 2009). Có một mối liên kết mạnh mẽ giữa nhận thức của nhân viên và các yếu tố đặc biệt của môi trường mà họ làm việc tách biệt với chính công việc, bao gồm chính sách của công ty, tiền lương và kỳ nghỉ.

Những điều kiện như vậy đặc biệt gây khó khăn cho thị trường khách sạn hạng sang, nơi mà dịch vụ chất lượng cao, đòi hỏi một sự tiếp cận tinh tế đối với HRM, được công nhận là một nguồn lợi thế cạnh tranh quan trọng (Maroudas et al., 2008). Trong một ý nghĩa thực sự, các dịch vụ của khách sạn mà nhân viên mang đến cho khách hàng sẽ đại diện cho ngành công nghiệp này (Schneider và Bowen, 1993). Đại diện này thường được giới hạn trong trải nghiệm của khách hàng. Điều này cho thấy đã có sự phân đôi giữa môi trường được cung cấp cho khách hàng trong các khách sạn sang trọng và điều kiện làm việc của nhân viên của khách sạn.

Do đó, điều cần thiết là ban quản lý khách sạn phải phát triển các hoạt động Quản Lý Nhân Sự cho phép bộ phận nhân sự truyền cảm hứng và giữ chân nhân viên có năng lực. Điều này đòi hỏi sự hiểu biết về điều gì thúc đẩy nhân viên ở các cấp quản lý khác nhau, và ở các giai đoạn khác nhau của sự nghiệp (Enz và Siguaw, 2000). Điều này ngụ ý rằng nó có lợi cho các nhà quản lý khách sạn để hiểu những hoạt động nào là thích hợp nhất để tăng sự hài lòng và giữ chân nhân viên.

Herzberg (1966) đề xuất rằng mọi người có hai loại nhu cầu chính, đầu tiên là các yếu tố thúc đẩy bên ngoài liên quan đến bối cảnh mà công việc được thực hiện, thay vì chính công việc. Chúng bao gồm điều kiện làm việc và sự an toàn khi làm việc. Khi những yếu tố này không phù hợp, có thể dẫn đến sự không hài lòng trong công việc. Mặc dù vậy, đáng chú ý là việc chỉ đáp ứng những nhu cầu này không mang lại sự hài lòng, mà chỉ làm giảm sự không hài lòng (Maroudas et al., 2008).

Nhân viên cũng có nhu cầu thúc đẩy nội tạ hoặc người tạo động lực, bao gồm các yếu tố như thành tích và sự công nhận. Không giống như các yếu tố bên ngoài, các yếu tố thúc đẩy lý tưởng có thể dẫn đến sự hài lòng trong công việc (Maroudas et al., 2008). Lý thuyết của Herzberg, (1966) thảo luận về sự cần thiết của một ’cán cân’ giữa hai loại nhu cầu này.

Tác động của niềm vui như một yếu tố thúc đẩy trong công việc cũng đã được khám phá. Ví dụ, Tews, Michel và Stafford (2013) đã thực hiện một nghiên cứu tập trung vào nhân viên từ một chuỗi các nhà hàng theo chủ đề ở Hoa Kỳ. Khám phá ra rằng các hoạt động vui chơi có tác động tích cực đến hiệu suất làm việc và sự đồng tình từ người quản lý đối với niềm vui trong công việc có tác động tích cực trong việc giảm tỷ lệ đào thải. Phát hiện của họ ủng hộ quan điểm rằng niềm vui thực sự có thể có tác dụng có lợi, nhưng việc đóng khung của niềm vui đó phải được liên kết cẩn thận với cả mục tiêu của tổ chức và đặc điểm của nhân viên. “Người quản lý phải học cách đạt được sự cân bằng tinh tế khi cho phép nhân viên tự do tận hưởng công việc trong khi đồng thời đạt hiệu suất cao” (Tews et al., 2013).

*themed restaurrants: những nhà hàng được thiết kế theo một phong cách nhất định (như nhà hàng ninja, nhà hàng đồng xu, ..)

Deery (2008) đã khuyến nghị một số hành động có thể được áp dụng ở cấp độ tổ chức để giữ chân nhân viên tốt cũng như hỗ trợ cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình. Những đặc điểm phù hợp với ngành khách sạn bao gồm cho phép nghỉ ngơi đầy đủ trong ngày làm việc, cho phép nhân viên thực hiện đầy đủ các chức năng liên quan đến gia đình và cung cấp các buổi khám sức khỏe và cung cấp sự an toàn.

 

 

-Theo Cambridge 14 /Test 2/ Passage 1-

 

ALEXANDER HENDERSON (1831-1913)

Sinh ra ở Scotland, Henderson di cư đến Canada vào năm 1855 và trở thành một nhiếp ảnh gia phong cảnh nổi tiếng

Alexander Henderson sinh ra ở Scotland vào năm 1831 và là con trai của một thương gia thành công. Ông nội của ông, cũng được gọi là Alexander, đã thành lập doanh nghiệp gia đình, và sau đó trở thành chủ tịch đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia Scotland. Gia đình đã có đất đai rộng lớn ở Scotland. Bên cạnh căn nhà của ông ở Edinburgh, nó thuộc sở hữu Press Estate, 650 hecta đất nông nghiệp khoảng 35 dặm về phía đông nam của thành phố. Gia đình thường ở tại Press Castle, biệt thự lớn ở rìa phía bắc của khối tài sản, và Alexander đã dành phần lớn thời thơ ấu của mình trong khu vực này để chơi trên bãi biển gần Eybest hoặc câu cá ở suối gần đó.

Thậm chí khoảng thời gian sau khi ông đến trường tại Học viện Murcheston ở ngoại ô thành phố Edinburgh, Henderson đã trở lại Press vào cuối mỗi tuần. Năm 1849, ông bắt đầu học nghề trong suốt ba năm để trở thành kế toán viên. Mặc dù không bao giờ thích thú với triển vọng của một sự nghiệp kinh doanh, ông vẫn ở lại đó học để làm hài lòng gia đình. Tuy nhiên, vào tháng 10 năm 1855, ông đã di cư đến Canada cùng với vợ Agnes Elder Robertson và họ định cư tại Montreal.

Henderson học nhiếp ảnh ở Montreal vào khoảng năm 1857 và nhanh chóng bắt đầu chụp như một người nghiệp dư nghiêm túc. Ông trở thành một người bạn và đồng nghiệp của nhiếp ảnh gia người Scotland – Canada William Notman. Hai người đã thực hiện một chuyến du ngoạn bằng ảnh đến Thác Niagara vào năm 1860 và họ hợp tác trong các thử nghiệm lửa magiê như một nguồn ánh sáng nhân tạo để chụp ảnh vào năm 1865. Họ thuộc cùng một giai cấp trong xã hội và là những thành viên sáng lập của Hiệp hội Nghệ thuật Montreal. Henderson đóng vai trò là chủ tịch của cuộc họp đầu tiên của hiệp hội, được tổ chức tại studio ở Notman, vào ngày 11 tháng 1 năm 1860.

Mặc dù là bạn bè, song phong cách chụp ảnh của họ khá khác nhau. Trong khi phong cảnh Notman, được chú ý bởi tính chân thực táo bạo, thì Henderson, trong 20 năm đầu sự nghiệp đã tạo ra những hình ảnh lãng mạn, cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống phong cảnh Anh. Tiến bộ nghệ thuật và kỹ thuật của ông đã phát triển nhanh chóng và vào năm 1865, ông đã xuất bản bộ sưu tập ảnh phong cảnh lớn đầu tiên của mình. Ấn phẩm có số lượng phát hành hạn chế (chỉ có bảy bản đã được tìm thấy) và được gọi là Quan điểm và Nghiên cứu của Canada. Nội dung của mỗi bản sao khác nhau đáng kể và đã chứng minh rằng đây là một nguồn hữu ích để đánh giá tác phẩm ban đầu của Henderson.

Năm 1866, ông từ bỏ công việc kinh doanh của mình để mở một studio chụp ảnh, tự quảng cáo là một nhiếp ảnh gia chân dung và phong cảnh. Từ khoảng năm 1870, ông bỏ chụp ảnh chân dung để chuyên tâm chụp ảnh phong cảnh và các góc nhìn khác. Nhiều bức ảnh về cuộc sống thành phố của ông được tiết lộ trong các cảnh đường phố, nhà cửa và chợ sầm uất với hoạt động của con người, và mặc dù chủ đề yêu thích của ông là phong cảnh, ông thường sáng tác những cảnh quay của mình như làm ruộng, cắt băng trên sông hoặc chèo thuyền xuôi dòng suối trong rừng. Thị trường có đủ nhu cầu cho các loại ảnh chụp phong cảnh này và những cảnh khác mà ông đã mô tả việc buôn bán gỗ, tàu hơi nước và thác nước để cho phép ông kiếm sống. Có rất ít nhiếp ảnh nghiệp dư hoặc nhiếp ảnh gia cạnh tranh trước cuối những năm 1880 vì các kỹ thuật tốn thời gian và sức nặng của trang thiết bị. Mọi người muốn mua những bức ảnh làm kỷ niệm của một chuyến đi hoặc làm quà tặng, và để phục vụ cho thị trường này, Henderson đã có những bức ảnh được trưng bày tại studio của mình để gắn, đóng khung hoặc đưa vào album.

Henderson thường xuyên trưng bày các bức ảnh của mình ở Montreal và nước ngoài, ở London, Edinburgh, Dublin, Paris, New York và Philadelphia. Ông đã gặt nhiều thành công hơn vào năm 1877 và 1878 tại New York khi giành được giải thưởng đầu tiên trong triển lãm do E and H T Anthony and Company tổ chức cho các ảnh phong cảnh sử dụng quy trình Lambertype. Năm 1878, tác phẩm của ông đã giành giải nhì tại triển lãm thế giới ở Paris.

Trong những năm 1890 và 1880, Henderson đã đi du lịch khắp Quebec và Ontario, ở Canada, ghi lại các thành phố lớn của hai tỉnh và nhiều ngôi làng ở Quebec. Ông đặc biệt yêu thích nơi hoang dã và thường đi bằng ca nô trên Blanche, du Lièvre và các dòng sông nổi tiếng khác ở phía đông. Ông đã nhiều lần đến Maritimes và vào năm 1872, ông đi thuyền dọc theo bờ phía bắc của sông St Lawrence. Cùng năm đó, trong khi ở khu vực hạ lưu sông St Lawrence, ông đã chụp một số bức ảnh về việc xây dựng Đường sắt liên lục địa. Tác phẩm này đã được ủy ban từ đường sắt chọn để ghi lại các cấu trúc chính dọc theo tuyến đường gần như hoàn thành nối từ Montreal đến Halifax vào năm 1875. Ủy ban thuộc các tuyến đường sắt khác đã bắt chước theo. Năm 1876, ông chụp ảnh những cây cầu trên Quebec, Montreal, Ottawa và Occidental Railway giữa Montreal và Ottawa. Năm 1885, ông đi về phía tây dọc theo Đường sắt Thái Bình Dương của Canada (CPR) đến tận Đèo Rogers ở British Columbia, nơi ông chụp ảnh những ngọn núi và tiến độ xây dựng.

Năm 1892, Henderson chấp nhận vị trí toàn thời gian với Đường sắt Thái Bình Dương của Canada (CPR) với tư cách là người quản lý của một bộ phận nhiếp ảnh mà ông đã thành lập và điều hành. Nhiệm vụ của ông bao gồm cả việc dành bốn tháng trong lĩnh vực này mỗi năm. Mùa hè năm đó, ông thực hiện chuyến đi thứ hai về phía tây, chụp ảnh rộng rãi dọc theo tuyến đường sắt đến tận Victoria. Ông tiếp tục theo cho đến năm 1897, khi ông hoàn toàn nghỉ hưu nghề nhiếp ảnh.

Khi Henderson qua đời vào năm 1913, bộ sưu tập kính âm khổng lồ của ông đã được cất giữ dưới tầng hầm của ngôi nhà. Ngày nay các bộ sưu tập tác phẩm của ông được tổ chức tại Lưu trữ Quốc gia Canada, Ottawa và Bảo tàng Lịch sử Canada McCord, Montreal.

 

-Theo Cambridge 14 /Test 2/ Passage 2-

 

SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC BẢN THIẾT KẾ TÒA NHÀ CHỌC TRỜI TRONG TƯƠNG LAI

Câu trả lời cho vấn đề sử dụng điện quá mức của các tòa nhà chọc trời và các tòa nhà công cộng lớn có thể được tìm thấy trong các thiết kế kiến trúc khéo léo nhưng bị lãng quên của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20

A.              Bản thiết kế Sự phục hồi môi trường tự nhiên trong kết cấu xây dựng của giáo sư Alan Short là đỉnh cao của 30 năm nghiên cứu và từng đoạt giải thưởng thiết kế công trình xanh của Short và các đồng nghiệp về Kiến trúc, Kỹ thuật, Toán ứng dụng và Khoa học Trái đất tại Đại học Cambridge.

“Cuộc khủng hoảng trong thiết kế tòa nhà đã hiện diện ở đây”, ông nói. “Các nhà hoạch định chính sách nghĩ rằng bạn có thể giải quyết vấn đề năng lượng và xây dựng bằng các công cụ phù hợp”. Nhưng không thể được. Khi nhiệt độ toàn cầu tiếp tục tăng, chúng ta sẽ tiếp tục lãng phí ngày càng nhiều năng lượng hơn để giữ cho các tòa nhà của chúng ta mát mẻ cho đến khi chúng ta hết khả năng làm điều này.

B.              Short đang kêu gọi một sự tái cấu trúc sâu rộng về cách thiết kế các tòa nhà chọc trời và các tòa nhà công cộng lớn – để chấm dứt sự phụ thuộc vào các tòa nhà kín, những nơi chỉ tồn tại được bằng cách thông qua hệ thống “hỗ trợ cuộc sống” của các máy điều hòa không khí cỡ đại.

Thay vào đó, ông cho thấy hoàn toàn có thể điều chỉnh thông gió tự nhiên và làm mát trong các tòa nhà lớn bằng cách nhìn về thời quá khứ, thời trước khi các hệ thống điều hòa không khí được giới thiệu rộng rãi và được quảng bá rầm rộ bởi các nhà phát minh ra chúng.

C.               Short chỉ ra rằng để làm cho hầu hết các tòa nhà hiện đại có thể ở được, chúng phải được làm kín và không khí được điều hòa . Năng lượng sử dụng và lượng khí thải carbon mà các tòa nhà lớn tạo ra thì vô đối và phần lớn là không cần thiết. Các tòa nhà ở phương Tây chiếm 40-50% lượng điện sử dụng, tạo ra lượng khí thải carbon lớn đáng kể và phần còn lại của thế giới cũng đang bắt kịp với tốc độ đáng sợ. Short coi các tòa nhà chọc trời bằng kính, thép và máy lạnh là biểu tượng của địa vị, thay vì là các phương cách thực tiễn để đáp ứng các yêu cầu của loài người chúng ta.

D.               Cuốn sách của Short nêu bật một nghệ thuật đang phát triển đầy tinh tế và khoa học về sự thông gió bên trong các tòa nhà trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, bao gồm cả thiết kế thông gió khéo léo của các bệnh viện. Quan tâm đặc biệt là những bệnh viện được xây dựng theo thiết kế của John Shaw Billings, bao gồm cả Bệnh viện Johns Hopkins đầu tiên ở thành phố Baltimore của Hoa Kỳ (1873-1889).

Chúng tôi đã dành ba năm để mô hình hóa các “thiết kế cuối cùng” của Billings, ông nói. “Chúng tôi đặt mầm bệnh * trong các dòng lưu thông của không khí, mô phỏng người bị bệnh lao (TB) ho trong phòng bệnh lớn và chúng tôi thấy hệ thống thông gió trong phòng sẽ giúp các bệnh nhân khác không bị tổn hại.”

E.               Chúng tôi đã phát hiện ra rằng các phòng bệnh lớn của bệnh viện thời thế kỷ 19 có thể tạo ra tới 24 luồng không khí thay đổi trong một giờ – điều đó tương tự như hiệu suất của một nhà hát hoạt động được điều khiển bằng máy tính hiện đại. Chúng tôi tin rằng bạn có thể xây dựng các căn phòng lớn dựa trên những nguyên tắc này ở thời điểm hiện tại.

Phòng đơn không phù hợp cho tất cả bệnh nhân. Các phòng bệnh lớn dùng chung thích hợp cho một số bệnh nhân nhất định – ví dụ như người già mắc chứng mất trí nhớ – sẽ được chăm sóc tốt giống như ở các bệnh viện ngày nay, mà chỉ chiếm một phần chi phí năng lượng.

Giáo sư Short cho rằng những tư duy và bộ kỹ năng đằng sau những thiết kế này đã hoàn toàn bị mất, ông than thở về sự biến mất của các rạp kịch nghệ, các nhà hát được thiết kế chuyên nghiệp, và các tòa nhà khác, những nơi mà tới một nửa không gian của tòa nhà thường bị bỏ qua để đảm bảo mọi người có được không khí trong lành.

F.               Phần lớn sự khéo léo hiện diện trong các thiết kế bệnh viện và tòa nhà ở thế kỷ 19 đã được thúc đẩy bởi tiếng thét sợ hãi của cộng đồng về việc các tòa nhà có thể bảo vệ họ chống lại những gì được cho là không khí chết chóc bốc mùi – khí độc hại làm lây lan bệnh tật. Mùi hôi thối được coi là tác nhân chính của bệnh tật và dịch bệnh trong nhiều thế kỷ, và được sử dụng để giải thích sự lây lan của bệnh từ thời Trung cổ cho đến khi dịch tả bùng phát ở London và Paris trong những năm 1850. Không khí bốc mùi, chứ không phải vi trùng, được cho là nguyên nhân chính gây ra bệnh “sốt bệnh viện”, dẫn đến bệnh tật và tử vong thường xuyên. Các khu thịnh vượng tránh xa các bệnh xá.

Cùng với việc lý thuyết không khí bốc mùi bị phủ nhận từ lâu, Short, trong 30 năm qua đã ủng hộ việc quay trở lại một số nguyên tắc thiết kế tòa nhà được tạo ra trong sự thức giấc của các thiết kế.

G.               Ngày nay, phần lớn không gian xây dựng và chi phí xây dựng được dành cho điều hòa không khí. “Nhưng tôi đã thiết kế và xây dựng một loạt các tòa nhà trong ba thập kỷ qua bằng cách cố gắng tái phát minh lại một số ý tưởng này và sau đó đo lường những gì xảy ra.”

Để hướng tới tương lai năng lượng thấp, lượng carbon thấp, chúng ta sẽ được khuyên nên nhìn lại bản thiết kế trước khi lượng năng lượng cao, carbon cao của chúng ta hiện diện hôm nay. Thật đáng ngạc nhiên là chúng ta lại đã từ bỏ một di sản phong phú”.

H.               Các ví dụ thành công của phương pháp tiếp cận của Short bao gồm Tòa nhà Nữ hoàng tại Đại học De Montfort ở Leicester. Chứa tới 2.000 nhân viên và sinh viên, toàn bộ tòa nhà được thông gió tự nhiên, làm mát tự động và thắp sáng tự nhiên, bao gồm hai khán phòng lớn nhất, mỗi phòng có hơn 150 chỗ ngồi cho mọi người. Tòa nhà từng đoạt giải thưởng sử dụng một phần điện năng của các tòa nhà có kích cỡ tương đương ở Anh.

Short cho rằng các tòa nhà chọc trời bằng kính ở London và trên thế giới sẽ trở thành một gánh nặng trách nhiệm trong 20 hoặc 30 năm tới nếu dự đoán mô hình khí hậu và giá năng lượng tăng lên đúng như đã tiên đoán.

I.               Ông tin chắc rằng các tòa nhà chọc trời được làm mát toàn bộ bằng môi trường tự nhiên có thể được xây trong hầu hết mọi khí hậu. Ông và nhóm của mình đã làm việc trên các tòa nhà lai ở vùng khí hậu khắc nghiệt của Bắc Kinh và Chicago – được xây dựng với hệ thống thông gió tự nhiên được hỗ trợ bởi điều hòa không khí dự phòng – điều đáng ngạc nhiên là có thể tắt thiết bị điều hòa hơn một nửa thời gian trong những ngày khí hậu ôn hòa, hoặc trong suốt mùa xuân và mùa thu.

Short hướng về cách chúng ta có thể tái hình dung lại các thành phố, văn phòng và nhà ở của tương lai. Có lẽ đó là lúc chúng ta thay đổi quan điểm của mình.

 

-Theo Cambridge 14 /Test 2/ Passage 3-

 

TẠI SAO CÁC CÔNG TY NÊN CHÀO ĐÓN SỰ HỖN LOẠN

A.               Tính tổ chức là một công việc lớn. Cho dù cuộc sống của chúng ta – là tất cả những hộp thư đến và lịch làm việc – hay cách các công ty được cấu trúc, thì hiện có một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô la đang giúp đáp ứng nhu cầu này.

Chúng ta có nhiều chiến lược để quản lý thời gian, quản lý dự án và tự tổ chức hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử loài người. Chúng ta được cho biết rằng chúng ta nên tổ chức công ty của chúng ta, cuộc sống gia đình của chúng ta, các tuần lễ, ngày và cả bảy giấc ngủ hàng đêm trong tuần của chúng ta, tất cả như là một cách thức để làm mọi thứ trong cuộc sống của chúng ta trở nên hiệu quả hơn. Mỗi tuần, vô số hội thảo và sự kiện diễn ra trên khắp thế giới để nói với công chúng rằng họ phải trả tiền để tái cấu trúc lại cuộc sống của họ nhằm đạt được thành công trong việc quản lý cuộc đời họ.

Biện pháp tu từ này cũng đã len lỏi vào suy nghĩ của các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp và các doanh nhân, phần lớn là niềm vui của những người tự xưng là  cầu toàn với nhu cầu làm cho mọi thứ trở nên đúng đắn. Số lượng các trường kinh doanh và sinh viên tốt nghiệp đã tăng ồ ạt trong 50 năm qua, về cơ bản là dạy mọi người cách tổ chức tốt.

B.               Tuy nhiên, trớ trêu thay, số lượng doanh nghiệp thất bại cũng tăng đều đặn. Căng thẳng liên quan đến công việc đã tăng lên. Một tỷ lệ lớn công nhân từ bất kỳ các nhóm cụ thể nào đều tuyên bố không hài lòng với cách thức cấu trúc công việc của họ và cách họ được quản lý.

Điều này đặt ra câu hỏi: điều gì đã xảy ra? Tại sao trên giấy tờ, con đường vạch ra cho doanh nghiệp dường như là một cú đánh chắc chắn để tăng năng suất, nhưng trong thực tế lại rơi vào những thiếu sót được tiên liệu?

C.               Điều này đã là một vấn đề trong một thời gian dài. Frederick Taylor là một trong những người đi đầu trong quản lý khoa học. Viết vào nửa đầu thế kỷ 20, ông đã thiết kế một số nguyên tắc để cải thiện hiệu quả của quá trình làm việc, từ đó trở nên phổ biến trong các công ty hiện đại. Vì vậy, các nguyên tắc để cải thiện hiệu quả của quá trình làm việc đã được tiếp cận một thời gian.

D.               Nghiên cứu mới cho thấy nỗi ám ảnh về hiệu quả này là sai lầm. Vấn đề không nhất thiết là các lý thuyết hay chiến lược quản lý mà chúng ta sử dụng để tổ chức công việc; đó là những giả định cơ bản mà chúng ta nắm giữ trong cách tiếp cận cách thức để chúng ta làm việc. Ở đây, nó giả định rằng thứ tự là một điều kiện cần thiết cho năng suất làm việc. Giả định này cũng đã thúc đẩy ý tưởng rằng rối loạn phải gây bất lợi cho năng suất hoạt động của tổ chức. Kết quả là các doanh nghiệp và mọi người dành thời gian và tiền bạc cho lợi ích của việc tổ chức, thay vì thực sự nhìn vào mục tiêu cuối cùng và sự hữu ích của một nỗ lực như vậy.

E.               Hơn nữa, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc sắp xếp thực sự giảm dần về hiệu quả. Tính trật tự làm tăng năng suất đến một mức độ nhất định, nhưng cuối cùng hiệu quả của quá trình tổ chức và lợi ích này, giảm dần cho đến điểm mà bất kỳ sự gia tăng nào về mặt sắp xếp/tổ chức đều sẽ làm giảm năng suất. Một số người lập luận rằng trong một doanh nghiệp, nếu chi phí của việc cấu trúc một cách hệ thống một công việc cụ thể nào đó vượt xa lợi ích của việc thực hiện công việc, thì nó không nên được cấu trúc một cách máy móc. Thay vào đó, các tài nguyên liên quan có thể được sử dụng tốt hơn ở nơi khác.

F.               Trong thực tế, nghiên cứu cho thấy rằng, khi đổi mới, cách tiếp cận tốt nhất là tạo ra một môi trường không có cấu trúc hay phân cấp và cho phép mọi người tham gia để gắn kết với nhau tựa như một nhóm hữu cơ. Các môi trường này có thể dẫn đến các giải pháp mới, trong các môi trường có cấu trúc thông thường (chứa đầy các nút thắt về luồng thông tin, cấu trúc năng lượng, quy tắc và công việc thường) sẽ không bao giờ đạt được.

G.               Trong thời gian gần đây, các công ty đã dần bắt đầu chấp nhận sự vô tổ chức này. Nhiều người trong số họ chấp nhận nó về mặt nhận thức (nắm lấy ý tưởng về sự rối loạn, trái ngược với việc sợ nó) và về mặt quy trình (đưa các cơ chế vào để giảm cấu trúc).

Ví dụ, Oticon, một nhà sản xuất máy trợ thính lớn của Đan Mạch, đã sử dụng cấu trúc mà nó gọi là cấu trúc ‘spaghetti”, để giảm các thứ bậc cứng nhắc của tổ chức. Điều này liên quan đến việc loại bỏ các chức danh công việc chính thức và mang lại cho nhân viên số lượng lớn quyền sở hữu trong thời gian và dự án của riêng họ. Cách tiếp cận này đã được chứng minh là rất thành công ban đầu, với sự cải thiện rõ ràng về năng suất của người lao động trong tất cả các khía cạnh của doanh nghiệp.

Theo cách tương tự, cựu chủ tịch của General Electric đã chấp nhận sự vô tổ chức, đưa ra ý tưởng về tổ chức ‘không ranh giới”. Một lần nữa, nó liên quan đến việc phá vỡ các rào cản giữa các bộ phận khác nhau của một công ty và khuyến khích sự hợp tác ảo và làm việc linh hoạt. Google và một số công ty công nghệ khác đã chấp nhận (ít nhất là một phần) các loại cấu trúc linh hoạt này, được hỗ trợ bởi công nghệ và các giá trị công ty mạnh mẽ gắn kết mọi người lại với nhau.

H.               Một lời cảnh báo cho những người khác nghĩ về việc nhảy vào nhóm không ranh giới này: bằng chứng cho đến nay cho thấy sự rối loạn, giống như trật tự, dường như cũng làm giảm lợi ích và cũng có thể có tác động bất lợi đến hiệu suất nếu bị lạm dụng. Giống như trật tự, rối loạn chỉ nên được chấp nhận vừa phải khi nó hữu ích. Nhưng chúng ta không nên sợ nó – cũng không nghiêng về cái này hơn cái kia. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng chúng ta nên liên tục đặt câu hỏi liệu các giả định hiện tại của chúng ta có hiệu quả hay không.

 

-Theo Cambridge 14 /Test 3/ Passage 1-

KHÁI NIỆM VỀ TRÍ THÔNG MINH

A.               Cùng nhìn theo một quan điểm, mọi người đều biết trí thông minh là gì; nhìn theo một cách khác, thì lại không có ai biết cả. Nói cách khác, tất cả mọi người đều có những khái niệm vô thức – được gọi là lý thuyết ngầm – về trí thông minh, nhưng không ai biết chắc chắn nó thực sự là gì. Chương này đề cập đến cách mọi người khái niệm hóa trí thông minh, bất kể nó thực sự là gì.

Nhưng tại sao chúng ta thậm chí quan tâm mọi người nghĩ trí thông minh là gì, trái ngược với việc đánh giá bất cứ thứ gì thực sự là gì? Có ít nhất giai đoạn mà quan niệm của mọi người về sự thông minh.

B.               Đầu tiên, các lý thuyết ngầm về trí thông minh thúc đẩy cách mọi người nhận thức và đánh giá trí thông minh của chính họ và của người khác. Để hiểu rõ hơn về những đánh giá mà mọi người đưa ra về khả năng của chính họ và của người khác, tìm hiểu về lý thuyết ngầm của mọi người thì rất hữu ích.

Ví dụ, các lý thuyết ngầm của phụ huynh về sự phát triển ngôn ngữ của con cái họ sẽ xác định ở độ tuổi nào thì ba mẹ sẽ sẵn sàng thực hiện các chỉnh sửa khác nhau trong khả năng phát ngôn của con cái họ. Tổng quát hơn, các lý thuyết ngầm của phụ huynh về trí thông minh sẽ xác định ở độ tuổi nào họ tin rằng con cái họ đã sẵn sàng để thực hiện các nhiệm vụ nhận thức khác nhau. Người phỏng vấn xin việc sẽ đưa ra quyết định tuyển dụng trên cơ sở lý thuyết ngầm của họ về trí thông minh. Mọi người sẽ quyết định kết bạn với ai trên cơ sở những lý thuyết đó. Tóm lại, kiến thức về các lý thuyết ngầm về trí thông minh rất quan trọng vì kiến thức này thường được mọi người sử dụng để đưa ra phán đoán trong quá trình sống hàng ngày của họ.

C.               Thứ hai, các lý thuyết ngầm của các nhà điều tra khoa học cuối cùng cũng làm lộ dần các lý thuyết rõ ràng của họ. Do đó, rất hữu ích để tìm hiểu những lý thuyết ngầm này là gì. Các lý thuyết ngầm cung cấp một khung hữu ích trong việc xác định phạm vi chung của một hiện tượng – đặc biệt là một hiện tượng vẫn chưa được hiểu rõ. Những lý thuyết ngầm này có thể gợi ý ít hay nhiều những khía cạnh nào của hiện tượng đã tham gia trong các cuộc điều tra trước đây.

D.               Thứ ba, các lý thuyết ngầm có thể hữu ích khi một nhà điều tra nghi ngờ rằng các lý thuyết rõ ràng hiện có là sai hoặc lệch lạc. Nếu một cuộc điều tra về các lý thuyết ngầm cho thấy có rất ít sự tương ứng giữa các lý thuyết ngầm và các lý thuyết minh bạch đang tồn tại, thì các lý thuyết ngầm có thể sai. Nhưng khả năng cũng cần phải được tính đến là các lý thuyết minh bạch đang tồn tại này là sai và cần sửa chữa hoặc bổ sung. Ví dụ, một số lý thuyết ngầm về trí thông minh cho thấy sự cần thiết phải mở rộng một số lý thuyết minh bạch đang tồn tại của chúng ta về cấu trúc.

E.               Cuối cùng, hiểu các lý thuyết ngầm về trí thông minh có thể giúp làm sáng tỏ sự khác biệt về phát triển và giao thoa văn hóa. Như đã đề cập trước đó, mọi người có kỳ vọng về các màn trình diễn trí tuệ khác nhau của trẻ em ở các độ tuổi khác nhau. Làm thế nào những kỳ vọng khác nhau lại là một phần chức năng của văn hóa. Ví dụ, những kỳ vọng cho trẻ em tham gia học tập theo kiểu phương Tây gần như chắc chắn sẽ khác với những trẻ em không tham gia vào việc học như vậy.

F.               Tôi đã gợi ý rằng có ba lý thuyết ngầm chính yếu về việc trí thông minh liên quan đến toàn xã hội như thế nào (Sternberg, 1997). Những lý thuyết này có thể được gọi là Hamilton, Jeffersonian và Jacksonian. Những quan điểm này không dựa trên một cách cứng nhắc, mà thay vào đó, một cách mềm dẻo, dựa trên những triết lý của Alexander Hamilton, Thomas Jefferson và Andrew Jackson, ba chính khách vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ.

G.               Quan điểm của Hamilton, tương tự như quan điểm của Platon, là những người được sinh ra với các mức độ thông minh khác nhau và những người kém thông minh cần sự quản lý tốt của những người thông minh hơn để giữ họ theo kịp, những người này được gọi là quan chức chính phủ hay, được gọi là các nhà triết học (trong thời kỳ của Plato). Herrnstein và Murray (1994) dường như đã chia sẻ niềm tin này khi họ viết về sự xuất hiện của một tầng lớp tinh hoa (IQ cao), mà cuối cùng sẽ phải chịu trách nhiệm về một đám đông quần thể không tinh nhuệ (IQ thấp) người không thể tự chăm sóc bản thân. Để những người không tinh nhuệ này lại với nhau, họ sẽ tạo ra một loại hỗn loạn như họ luôn tạo ra.

H.               Quan điểm của người Do Thái là mọi người nên có những cơ hội như nhau, nhưng họ không nhất thiết phải tận dụng mọi cơ hội bình đẳng này và không nhất thiết phải được khen thưởng như nhau cho những thành tựu của họ. Mọi người được khen thưởng cho những gì họ đạt được, nếu họ có cơ hội như nhau. Người đạt thành tích thấp không được khen thưởng ở cùng mức độ với người đạt thành tích cao. Theo quan điểm của người Do Thái, mục tiêu của giáo dục không phải là ủng hộ hay nuôi dưỡng một tầng lớp thượng lưu, như trong truyền thống Hamilton, mà là cho phép trẻ em có cơ hội sử dụng đầy đủ các kỹ năng mà chúng có. Quan điểm của riêng tôi cũng tương tự như vậy (Sternberg, 1997).

I.               Quan điểm của Jackson là tất cả mọi người đều bình đẳng, không chỉ là con người mà còn về năng lực của họ – rằng một người sẽ phục vụ tốt như một người khác trong chính phủ hoặc trong bồi thẩm đoàn hoặc trong hầu hết mọi vị trí trách nhiệm. Theo quan điểm của nền dân chủ, mọi người về cơ bản là giao thoa ngoại trừ các kỹ năng chuyên ngành, tất cả đều có thể học được. Theo quan điểm này, chúng tôi không cần hoặc muốn bất kỳ cơ quan tổ chức nào có thể dẫn đến việc ủng hộ nhóm này hơn nhóm khác.

J.               Các lý thuyết tiềm ngầm về trí thông minh và mối quan hệ của trí thông minh với xã hội có lẽ cần được xem xét cẩn thận hơn so với trước đây vì chúng thường đóng vai trò là những giả định cơ bản cho các lý thuyết đã minh bạch và thậm chí là cho các thiết kế thử nghiệm được coi là có đóng góp về mặt khoa học. Cho đến khi các học giả có khả năng thảo luận về các lý thuyết ngầm của họ và các giả định của họ, thì họ có khả năng bỏ lỡ quan điểm mà người khác đang nói khi thảo luận về lý thuyết minh bạch và dữ liệu của họ.

 

-Theo Cambridge 14 /Test 3/ Passage 2-

CỨU LẤY LOÀI BỌ ĐỂ TÌM PHƯƠNG THUỐC MỚI

Nhà động vật học Ross Piper suy nghĩ nghiêm túc về tiềm năng của côn trùng trong việc nghiên cứu dược phẩm.

A.               Có nhiều loại thuốc hơn bạn nghĩ có nguồn gốc từ hoặc lấy cảm hứng từ các hợp chất được tìm thấy trong các sinh vật sống. Hướng về thiên nhiên để xoa dịu và chữa khỏi bệnh mà chúng ta mắc phải thì không có gì mới – chúng ta đã làm điều đó trong hàng chục ngàn năm. Bạn chỉ cần nhìn vào các loài linh trưởng khác – chẳng hạn như những con khỉ capuchin tự chà xát bằng những con rết độc tố để xua đuổi muỗi, hoặc những con tinh tinh sử dụng thực vật rừng độc hại để loại bỏ ký sinh trùng đường ruột của chúng – bạn có thể nhận ra rằng tổ tiên xa xưa của chúng ta cũng có thể đã có một sự hiểu biết cơ bản về y học.

B.               Khoa học và hóa học dược phẩm được xây dựng trên những nền tảng cổ xưa này và đã hoàn thiện việc trích xuất, đặc tính hóa, sửa đổi và thử nghiệm các sản phẩm tự nhiên này. Sau đó, trong một thời gian, khoa học dược phẩm hiện đại đã chuyển sự tập trung của nó ra khỏi thiên nhiên và vào phòng thí nghiệm, thiết kế các hợp chất hóa học từ đầu. Nguyên nhân chính của sự dịch chuyển này là mặc dù có rất nhiều hợp chất hóa học đầy hứa hẹn trong tự nhiên, việc tìm kiếm chúng không hề dễ dàng. Đảm bảo đủ số lượng sinh vật trong nghi vấn, cô lập và mô tả các hợp chất có lợi, và sản xuất số lượng lớn các hợp chất này đều là những trở ngại đáng kể.

C.               Quá trình tìm kiếm dược phẩm dựa trên phòng thí nghiệm đã đạt được mức độ thành công khác nhau, điều mà bây giờ đã thúc đẩy sự phát triển của các phương pháp mới tập trung một lần nữa vào các sản phẩm tự nhiên. Với khả năng khai thác bộ gen cho các hợp chất hữu ích, giờ đây rõ ràng là chúng ta hầu như không hủy hoại bề mặt của sự đa dạng phân tử. Nhận thức này, cùng với một số cuộc khủng khoảng sức khỏe bao phủ, như việc kháng kháng sinh, đã đưa phương pháp sinh học – tìm kiếm các hợp chất hữu ích trong tự nhiên – trở lại vững chắc trên bản đồ.

D.               Côn trùng là những bậc thầy không thể tranh cãi của vùng lãnh thổ trải rộng khắp trên bề mặt trái đất, nơi chúng chiếm giữ mọi ngóc ngách có thể. Do đó, chúng có một loạt các phản ứng gây hoang mang với các sinh vật khác, thứ gì đó đã thúc đẩy sự phát triển của một loạt các hợp chất rất thú vị cho mục đích phòng thủ và tấn công. Sự đa dạng đáng chú ý của loài côn trùng vượt xa mọi nhóm động vật khác trên hành tinh cộng lại. Tuy nhiên, mặc dù côn trùng là loài động vật đa dạng nhất còn tồn tại, nhưng tiềm năng của nguồn hợp chất trị liệu từ chúng vẫn chưa được nhận ra.

E.               Từ tỷ lệ nhỏ nhóm côn trùng đã được nghiên cứu, một số hợp chất đầy hứa hẹn đã được xác định. Ví dụ, alloferon, một hợp chất chống vi trùng được sản xuất bởi ấu trùng ruồi, được sử dụng như một chất chống vi rút và chống ung thư ở Hàn Quốc và Nga. Ấu trùng của một vài loài côn trùng khác đang được điều tra về các hợp chất kháng khuẩn mạnh mà chúng tạo ra. Trong khi đó, một hợp chất từ nọc độc của ong bắp cày Polybia paulista có tiềm năng trong điều trị ung thư.

F.               Tại sao côn trùng lại nhận được sự chú ý tương đối ít trong việc lọc sinh học? Thứ nhất, có rất nhiều côn trùng, mà không có phương thức tiếp cận mục tiêu, thì việc điều tra giống loài khổng lồ này là một nhiệm vụ khó khăn. Thứ hai, côn trùng thường rất nhỏ và các tuyến bên trong chúng tiết ra các hợp chất có khả năng hữu ích lại còn nhỏ hơn. Điều này có thể gây khó khăn cho việc thu được đủ lượng hợp chất cho các thử nghiệm tiếp theo. Thứ ba, mặc dù chúng ta thường cho rằng côn trùng có ở khắp mọi nơi, nhưng thực tế của sự phổ biến này chỉ là số lượng lớn của một vài loài cực kỳ phổ biến. Nhiều loài côn trùng không dễ gặp phải thường xuyên và rất khó nuôi nhốt trong lồng, điều này, một lần nữa, có thể khiến chúng ta không đủ nguồn lực để làm việc với chúng.

G.               Các đồng nghiệp và tôi tại Đại học Aberystwyth ở Anh đã phát triển một cách tiếp cận trong đó chúng tôi sử dụng kiến thức về sinh thái học như một hướng dẫn để nhắm đến đối tượng mục tiêu mà chúng tôi nỗ lực tìm kiếm. Các sinh vật mà chúng ta đặc biệt quan tâm đến là những loài côn trùng tiết ra chất độc cực mạnh để khuất phục con mồi và giữ cho nó tươi để tiêu thụ trong tương lai. Thậm chí còn có nhiều côn trùng là bậc thầy khai thác môi trường sống bẩn thỉu, như phân và xác, nơi chúng thường xuyên bị thách thức bởi hàng ngàn vi sinh vật. Những côn trùng này có nhiều hợp chất chống vi trùng để đối phó với vi khuẩn và nấm gây bệnh, cho thấy rằng chắc chắn có khả năng tìm thấy nhiều hợp chất có thể phục vụ hoặc truyền cảm hứng cho kháng sinh mới.

H.               Mặc dù kiến thức lịch sử tự nhiên chỉ cho chúng ta đi đúng hướng, nhưng nó không giải quyết được các vấn đề liên quan đến việc thu được các hợp chất hữu ích từ côn trùng. May mắn thay, giờ đây có thể trích xuất ra các đoạn DNA của côn trùng mang mã số cho các hợp chất thú vị và chèn chúng vào các dòng tế bào cho phép sản xuất số lượng lớn hơn. Và mặc dù con đường từ việc cô lập và mô tả các hợp chất có phẩm chất mong muốn để phát triển một sản phẩm thương mại là rất dài và đầy cạm bẫy, nhưng sự đa dạng của các loại dược phẩm có nguồn gốc động vật thành công trên thị trường chứng tỏ đây là một lộ trình rất đáng để khám phá.

I.               Với việc biến mất từng chút một của đời sống hoang dã, chúng ta hiện đang tự tước đi những loại thuốc tiềm năng. Càng yêu thích việc phát triển một loại thuốc đột phá có nguồn gốc từ côn trùng nhiều bao nhiêu, động lực của tôi khi nhìn côn trùng theo tình yêu này chính là sự bảo tồn. Tôi thành thật tin rằng tất cả các loài vật, dù nhỏ và dường như không nổi bật, đều có quyền tồn tại vì lợi ích của riêng chúng. Nếu chúng ta có thể chiếu ánh sáng vào hốc tối hơn của tủ thuốc Y học, khám phá hóa chất hữu ích của các loài động vật đa dạng nhất trên hành tinh, thì tôi tin rằng chúng ta có thể khiến mọi người nghĩ khác về giá trị của thiên nhiên.

 

 

-Theo Cambridge 14 /Test 3/ Passage 3-

SỨC MẠNH CỦA SỰ VUI CHƠI

Hầu như mọi đứa trẻ, trên toàn thế giới, đều chơi đùa. Sự thúc đẩy đến hoạt động vui chơi rất mãnh liệt đến nỗi trẻ em sẽ làm như vậy trong mọi trường hợp, ví dụ như khi chúng không có đồ chơi thực sự, hoặc khi cha mẹ không chủ động khuyến khích hành vi này. Trong mắt của một đứa trẻ, chạy, giả vờ và xây dựng là vui cả. Các nhà nghiên cứu và giáo dục biết rằng những hoạt động vui chơi này có lợi cho sự phát triển của toàn bộ đứa trẻ trên các lĩnh vực xã hội, nhận thức, thể chất và cảm xúc. Thật vậy, chơi đùa là một phần công cụ cho sự phát triển của trẻ khỏe mạnh đến mức Ủy ban Nhân quyền cao cấp của Liên hiệp quốc (1989) công nhận chơi là quyền cơ bản của mọi trẻ em.

Tuy nhiên, trong khi các chuyên gia tiếp tục đưa ra một lập luận mạnh mẽ về tầm quan trọng của việc chơi đùa ở trẻ em thì trong cuộc sống của trẻ em, thời gian thực tế trẻ em được vui chơi tiếp tục giảm. Ngày nay, trẻ em chơi ít hơn tám giờ mỗi tuần so với thời gian những đứa trẻ khác đã vui chơi cách đây hai thập kỷ (Elkind 2008). Dưới áp lực của các tiêu chuẩn học tập ngày càng tăng, trò chơi đang được thay thế bằng việc chuẩn bị bài kiểm tra ở trường mẫu giáo và trường học các cấp, và các bậc cha mẹ có ý đích nâng đỡ con trẻ đang học mẫu giáo của họ thì hướng tới niềm tin rằng flashcards và đồ chơi giáo dục là con đường dẫn đến thành công. Xã hội của chúng ta đã tạo ra một sự phân đôi sai lầm giữa chơi và học.

Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ học cách điều chỉnh hành vi của mình, đặt nền móng cho việc học về khoa học và toán học sau này, tìm ra các cuộc đàm phán phức tạp về các mối quan hệ xã hội, xây dựng một kịch bản về kỹ năng giải quyết vấn đề sáng tạo, và còn nhiều điều khác nữa. Ngoài ra còn có một vai trò quan trọng đối với người lớn trong việc hướng dẫn trẻ em thông qua các cơ hội học tập vui tươi.

Có một sự đồng thuận hoàn toàn về một định nghĩa chính thức của hoạt động vui chơi tiếp tục trốn tránh các nhà nghiên cứu và các lý thuyết gia, những người nghiên cứu nó. Các định nghĩa bao gồm từ việc mô tả trừu tượng về các loại trò chơi khác nhau, chẳng hạn như chơi thể chất, xây dựng, ngôn ngữ hoặc trò biểu tượng (Miler & Almon 2009), đến các danh sách các tiêu chí rộng khắp, dựa trên các quan sát và thái độ, nhằm nắm bắt bản chất của tất cả các hành vi trong khi chơi (theo Rubin et al. 1983).

Phần lớn các định nghĩa đương đại về hoạt động vui chơi tập trung vào một số tiêu chí chính. Người sáng lập của Viện trò chơi quốc gia, Stuart Brown, đã mô tả hoạt động chơi đùa “là bất cứ thứ gì tự phát được thực hiện cho mục đích riêng của mình”. Cụ thể hơn, ông nói rằng nó dường như không có mục đích ngoài việc tạo ra niềm vui và sự hân hoan, [và] dẫn người chơi đến giai đoạn tiếp theo của sự thành thạo (như được trích dẫn trong Tippett 2008). Tương tự, Miller và Almon (2009) nói rằng chơi bao gồm “các hoạt động được trẻ em tự do lựa chọn và hướng dẫn và phát sinh từ động lực nội tại”. Thông thường, chơi được định nghĩa theo chiều dọc về tính liên tục là niềm vui ít hay nhiều bằng cách sử dụng bộ tiêu chí hành vi và tiêu chí sau đây  (theo Rubin et al. 1983).

Vui chơi thì thú vị: Trẻ em phải thích hoạt động này còn không thì đó không phải là chơi đùa. Đó là thúc đẩy nội tại: Trẻ em tham gia chơi chỉ đơn giản là vì sự hài lòng mà chính hành vi đó mang lại. Nó không có chức năng hoặc mục tiêu thúc đẩy bên ngoài. Chơi là quá trình được định hướng: Khi trẻ chơi, giá trị trẻ nhận được trong suốt quá trình vui chơi thì quan trọng hơn kết thúc trò chơi là thắng hay thua. Trẻ được tự do lựa chọn, tự phát và tự nguyện. Nếu một đứa trẻ bị áp lực, chúng có thể sẽ không nghĩ về hoạt động này như là một trò chơi. Chơi là hoạt động gắn kết tích cực: Người chơi phải tham gia về thể chất và / hoặc bao gồm cả tinh thần vào hoạt động chơi đùa này. Chơi là không theo nghĩa đen. Nó liên quan đến nghĩa bóng.

Theo quan điểm này, hành vi vui chơi của trẻ con có thể ở mức độ từ 0% đến 100% vui tươi. Rubin và đồng nghiệp đã không chỉ định lượng lớn hơn cho bất kỳ một thước đo nào trong cách xác định tính chất vui tươi; tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác đã gợi ý rằng quy trình định hướng và sự thiếu vắng mục đích chức năng một cách rõ ràng có thể là các khía cạnh quan trọng nhất của trò chơi (theo Pellegrini 2009).

Từ quan điểm của một sự liên tục, do đó, hoạt động vui chơi liên tục có thể pha trộn với các động cơ và thái độ khác thì ít có ý nghĩa vui chơi hơn, chúng giống như là công việc. Không giống như chơi, công việc thường không được xem là thú vị và nó được thúc đẩy từ bên ngoài (tức là nó được định hướng mục tiêu). Nhà nghiên cứu Joan Goodman (1994) cho rằng các hình thức lai tạo giữa công việc và vui chơi không gây bất lợi cho việc học; thay vào đó, họ có thể cung cấp phân cảnh tối ưu cho việc học. Ví dụ, một đứa trẻ có thể tham gia vào một hoạt động mang tính khó nhằn, và hướng đến mục tiêu do giáo viên của chúng thiết lập, nhưng chúng vẫn có thể được tham gia một cách tích cực và được thúc đẩy nội tại. Tại điểm giữa của vui chơi và làm việc, động lực của trẻ con, cùng với sự hướng dẫn từ người lớn, có thể tạo ra những cơ hội mạnh mẽ cho việc học vui tươi.

Quan trọng là, nghiên cứu gần đây ủng hộ ý tưởng rằng người lớn có thể tạo điều kiện cho trẻ em học tập trong khi duy trì cách tiếp cận vui tươi trong các tương tác được gọi là “vui chơi có hướng dẫn” (Fisher et al. 2011). Vai trò của người lớn trong trò chơi thay đổi như là một chức năng của các mục tiêu giáo dục của họ và mức độ phát triển của trẻ con (Hirsch-Pasek et al. 2009).

Chơi có hướng dẫn có hai hình thức. Ở mức độ rất cơ bản, người lớn có thể làm phong phú môi trường của trẻ em bằng cách cung cấp các món đồ chơi hoặc trải nghiệm để thúc đẩy các khía cạnh của chương trình giảng dạy. Ở dạng trò chơi có nhiều hướng dẫn trực tiếp hơn, cha mẹ hoặc người lớn khác có thể hỗ trợ trẻ em chơi bằng cách tham gia vui chơi với tư cách là người chơi chung, đưa ra các câu hỏi thấu đáo, nhận xét về những khám phá của trẻ con, hoặc khuyến khích khám phá thêm hoặc các khía cạnh mới cho hoạt động của trẻ con. Mặc dù học tập vui tươi có thể được cấu trúc phần nào, nó vẫn phải tập trung vào trẻ em (Nicolopolou et al. 2006). Chơi nên xuất phát từ mong muốn riêng của trẻ con.

Cả hoạt động chơi đùa tự do và chơi có hướng dẫn đều là những yếu tố thiết yếu trong cách tiếp cận lấy trẻ em làm trung tâm để học tập vui vẻ. Chơi tự do có động lực nội tại là cung cấp cho trẻ quyền tự chủ thực sự, trong khi chơi có hướng dẫn là một con đường thông qua đó cha mẹ và các nhà giáo dục có thể cung cấp nhiều kinh nghiệm học tập có mục tiêu hơn. Trong cả hai trường hợp, chơi nên được tích cực tham gia, nó nên chủ yếu hướng đến trẻ em, và nó phải vui vẻ.

 

 

-Theo Cambridge 14 /Test 4/ Passage 1-

BÍ QUYẾT TRẺ LÂU

Pheidole dentata, một loài kiến bản địa của miền đông nam Hoa Kỳ, thì không phải là loài bất tử. Nhưng các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng nó dường như không có dấu hiệu lão hóa. Kiến thợ già có thể làm mọi thứ tốt như những con kiến trẻ tuổi, và bộ não của chúng cũng sắc sảo. ‘Chúng tôi nhận ra một viễn cảnh cho thấy những con kiến này thực sự không suy giảm chức năng”, ông Ysabel Giraldo, người nghiên cứu về loài kiến cho luận án tiến sĩ của cô tại Đại học Boston.

Những chiến công bất chấp tuổi tác như vậy là rất hiếm trong vương quốc động vật. Chuột-chũi-không-có-lông có thể sống gần 30 năm và sống khỏe gần như cả đời. Chúng vẫn có thể sinh sản ngay cả khi già và chúng không bao giờ bị ung thư. Nhưng đại đa số động vật cũng sẽ suy giảm chức năng theo tuổi tác giống như con người. Giống như loài Chuột-chũi-không-có-lông, kiến là sinh vật có tính xã hội thường sống trong các tổ có tổ chức cao. “Tính phức tạp xã hội này khiến kiến P. dentata trở nên hữu ích cho việc nghiên cứu sự lão hóa ở người”, Giraldo nói, hiện đang công tác tại Viện Công nghệ California. Con người cũng có tính xã hội cao, một đặc điểm có liên quan đến sự lão hóa lành mạnh hơn. Ngược lại, hầu hết các nghiên cứu trên động vật về lão hóa đều sử dụng chuột, giun hoặc ruồi giấm, tất cả đều có cuộc sống biệt lập hơn nhiều.

Trong phòng thí nghiệm, kiến thợ P. dentata thường sống khoảng 140 ngày. Giraldo tập trung vào kiến ở bốn độ tuổi: 20 đến 22 ngày, 45 đến 47 ngày, 95 đến 97 ngày và 120 đến 122 ngày tuổi. Không giống như tất cả các nghiên cứu trước đây, chỉ ước tính xem con kiến bao nhiêu tuổi, công việc của cô đã theo dõi con kiến từ khi con nhộng trưởng thành, vì vậy cô biết chính xác độ tuổi của chúng. Sau đó, cô đưa chúng qua một loạt các bài kiểm tra.

Giraldo theo dõi những con kiến chăm sóc con non trong tổ tốt như thế nào, ghi lại tần suất mỗi con kiến tham dự vào việc mang thức ăn và cho con non ăn. Cô đã so sánh những con kiến 20 ngày tuổi và 95 ngày lần theo mùi hương của loài côn trùng thường để lại dấu vết cho thức ăn. Cô đã kiểm tra cách con kiến phản ứng với ánh sáng như thế nào và cũng đo được mức độ hoạt động của chúng bằng cách đếm tần suất kiến đi ngang qua theo hàng một trong một cái đĩa ăn nhỏ . Và cô đã thử nghiệm cách kiến phản ứng với con mồi sống: một con ruồi giấm. Giraldo dự kiến những con kiến già sẽ thực hiện kém trong tất cả các nhiệm vụ này. Nhưng những con côn trùng già đều là những người chăm sóc và theo dõi dấu vết tốt- những con kiến 95 ngày tuổi có thể lần theo mùi hương thậm chí lâu hơn so với những con non của chúng. Tất cả chúng đều phản ứng rất tốt và những con kiến già hoạt động nhiều hơn. Và khi bắt đầu phản ứng với con mồi, những con kiến già đã tấn công con ruồi giấm tội nghiệp cũng hung hăng như những con non đã làm, tấn công bạo lực bằng cái hàm của chúng hoặc kéo vào chân ruồi.

Sau đó, Giraldo đã so sánh bộ não của loài kiến 20 ngày tuổi và 95 ngày, để xác định bất kỳ tế bào nào sắp chết. Cô thấy không có sự khác biệt lớn với tuổi tác, cũng không có sự khác biệt nào về vị trí của các tế bào đang chết, cho thấy tuổi tác dường như không ảnh hưởng đến các chức năng não cụ thể. Kiến và các loài côn trùng khác có cấu trúc trong não gọi là thân nấm, rất quan trọng để xử lý thông tin, học tập và trí nhớ. Cô cũng muốn xem liệu lão hóa có ảnh hưởng đến mật độ của các phức hợp khớp thần kinh trong các cấu trúc này – các khu vực nơi các nơ-ron kết hợp với nhau. Một lần nữa, câu trả lời là không. Hơn thế nữa, những con kiến già đã không gặp phải bất kỳ sự sụt giảm nào về mức độ serotonin hoặc dopamine – những hóa chất trong não mà sự suy giảm thường diễn ra cùng lúc với sự lão hóa. Ở người, ví dụ, giảm serotonin có liên quan đến bệnh Alzheimer.

“Đây là lần đầu tiên bất cứ ai cũng nhìn thấy cả sự thay đổi trong hành vi và thần kinh ở những con kiến này một cách triệt để”, Giraldo, người gần đây đã công bố phát hiện trong Kỷ yếu của Hội Hoàng gia B. Các nhà khoa học đã xem xét một số khía cạnh tương tự ở loài ong, nhưng kết quả của các nghiên cứu ong gần đây đã thì lẫn lộn – một số nghiên cứu cho thấy sự suy giảm liên quan đến tuổi tác, mà các nhà sinh học gọi là lão hóa, và những nghiên cứu khác thì không. “Hiện tại, nghiên cứu đặt ra nhiều câu hỏi hơn là đưa ra câu trả lời”, ông Gir Giro nói, ‘bao gồm cả việc kiến P. dentata giữ được hình dáng bề ngoài tốt như thế nào”.

Ngoài ra, nếu những con kiến không suy giảm chức năng theo tuổi tác, tại sao chúng lại chết? Ở ngoài tự nhiên, những con kiến có thể không sống hết 140 ngày là do những kẻ săn mồi, bệnh tật và sống trong một môi trường khắc nghiệt hơn nhiều so với những tiện nghi trong phòng thí nghiệm. “Những con kiến may mắn sống trong tuổi già có thể bị suy giảm nghiêm trọng ngay trước khi chết”, Giraldo nói, nhưng cô không thể nói chắc chắn vì nghiên cứu của cô không được thiết kế để theo dõi khoảnh khắc cuối cùng của kiến.

Gene E. Robinson, nhà côn trùng học tại Đại học Illinois tại Urbana-Champaign cho biết, “điều quan trọng là phải mở rộng những phát hiện này cho những loài côn trùng có đặc tính xã hội khác”. Loài kiến này có thể là duy nhất hoặc nó có thể đại diện cho một mô hình rộng lớn hơn cho các loài bọ có tính xã hội khác với những manh mối khả dĩ về khoa học lão hóa ở động vật có hình dạng to lớn hơn. Dù bằng cách nào, thì dường như đối với những con kiến này, tuổi tác thực sự không quan trọng.

 

-Theo Cambridge 14 /Test 4/ Passage 2-

TẠI SAO VƯỜN THÚ LẠI TỐT CHO CÁC LOÀI VẬT?

Nhà khoa học David Hone làm việc cho các sở thú

A.               Theo quan điểm của tôi, việc nhiều loài động vật sống trong vườn thú hoặc công viên động vật hoang dã để có chất lượng cuộc sống cao hoặc cao hơn so với sống trong tự nhiên là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Động vật sống trong vườn thú đạt tiêu chuẩn sẽ có chế độ ăn đa dạng và chất lượng cao, có tất cả các chất bổ sung cần thiết, và bất kỳ bệnh nào mà chúng chẳng may gặp phải đều sẽ được điều trị. Sự di chuyển của chúng có thể bị hạn chế phần nào, nhưng chúng có một môi trường an toàn để sống, và chúng không bị bắt nạt và tẩy chay xã hội bởi đồng loại của chúng. Động vật không phải chịu sự đe dọa hoặc căng thẳng gây ra bởi động vật ăn thịt, hoặc sự kích ứng và đau đớn của ký sinh trùng hoặc thương tích. Động vật nuôi nhốt trung bình sẽ có tuổi thọ cao hơn so với động vật hoang dã của nó và sẽ không chết vì hạn hán, chết đói hoặc chết trong hàm của động vật ăn thịt. Rất nhiều điều rất khó chịu xảy ra với những con vật hoang dã thực sự, thì đơn giản là không xảy ra trong những sở thú đạt chuẩn, và quan điểm xem một cuộc sống “tự do” như một cuộc sống “tốt” một cách tự động, tôi nghĩ đó là một sai lầm. Hơn nữa, sở thú phục vụ một số mục đích chính.

B.               Thứ nhất, vườn thú trợ giúp cho sự bảo tồn. Số lượng khổng lồ gồm nhiều loài đang bị tuyệt chủng diễn ra trên khắp thế giới, và ngày càng có thêm nhiều loài khác đang bị đe dọa và do đó nguy cơ tuyệt chủng đang hiện diện. Hơn nữa, một số trong những vụ sụp đổ dân số đã xảy ra đột ngột, kịch tính và bất ngờ, hoặc đơn giản được phát hiện rất muộn trong ngày. Một loài được bảo vệ trong điều kiện nuôi nhốt có thể được nhân giống để trở thành quần thể lớn chống lại sự sụp đổ dân số hoặc tuyệt chủng trong tự nhiên. Một số lượng lớn các loài chỉ tồn tại trong điều kiện nuôi nhất, và nhiều trong số chúng sống trong các sở thú. Vẫn còn tồn tại nhiều loài hơn trong tự nhiên bởi vì chúng đã được trả về lại từ các sở thú, hoặc có các quần thể hoang dã đã được thúc đẩy bởi các động vật được nuôi nhốt. Nếu không có những nỗ lực này, sẽ có ít loài còn sống sót đến ngày nay. Mặc dù việc trả lại tự nhiên thành công thì rất ít và mất thời gian, nhưng số lượng này ngày càng tăng và thực tế là các loài đã được cứu hoặc được đem trả về giới tự nhiên là do hiệu quả của việc nuôi nhốt, điều này chứng minh giá trị của các sáng kiến đó.

C.               Sở thú cũng hỗ trợ cho nền giáo dục. Nhiều trẻ em và người lớn, đặc biệt là những người ở thành phố, sẽ không bao giờ nhìn thấy một động vật hoang dã ngoài con cáo hay chim bồ câu. Mặc dù sự thật là phim tài liệu truyền hình đang trở nên chi tiết và ấn tượng hơn bao giờ hết, và nhiều mẫu vật lịch sử tự nhiên được trưng bày trong bảo tàng, thực sự không có gì để so sánh với việc nhìn thấy một sinh vật sống bằng xương bằng thịt, nghe nó, ngửi nó, xem xem hiện nó đang làm gì và có thời gian để tiếp thu chi tiết. Mỗi điều đó thôi sẽ mang lại sự hiểu biết và quan điểm lớn hơn cho nhiều người, và hy vọng họ đánh giá cao hơn đối với động vật hoang dã, với những nỗ lực bảo tồn và cách họ có thể đóng góp.

D.               Ngoài ra, giáo dục còn có thể diễn ra trong các sở thú thông qua các dấu hiệu, cuộc nói chuyện và thuyết trình trực tiếp truyền đạt thông tin cho du khách hiểu về những con vật họ đang nhìn thấy và vị trí của chúng trên thế giới. Đây là một lĩnh vực mà các sở thú từng thiếu, nhưng giờ đây hoạt động này ngày càng tinh vi hơn trong công việc liên lạc và tiếp cận cộng đồng. Nhiều sở thú cũng làm việc trực tiếp để giáo dục nhân viên bảo tồn ở các quốc gia khác hoặc gửi người bảo vệ động vật ra nước ngoài để đóng góp kiến thức và kỹ năng của họ cho những người làm việc trong sở thú và khu bảo tồn, từ đó giúp cải thiện điều kiện và đem động vật trở lại thiên nhiên trên toàn thế giới.

E.               Sở thú cũng đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu. Nếu chúng ta muốn cứu các loài hoang dã, khôi phục và sửa chữa các hệ sinh thái, chúng ta cần biết về cách các loài chủ chốt sống, hành động và phản ứng. Có thể thực hiện nghiên cứu trên động vật trong các sở thú nơi có ít rủi ro hơn và ít biến đổi số hơn có nghĩa là những thay đổi thực sự có thể bị tác động trên các quần thể hoang dã. Ví dụ như tìm hiểu về chu kỳ động dục của một loài động vật và tỷ lệ sinh sản của nó giúp chúng ta quản lý các quần thể hoang dã. Các bước quy định như hành động bắt và di chuyển các con thú đơn lẻ có nguy cơ hoặc nguy hiểm được hỗ trợ bằng kiến thức thu được trong sở thú về liều thuốc gây mê và kinh nghiệm xử lý và vận chuyển động vật. Điều này có thể tạo ra sự khác biệt thực sự đối với các nỗ lực bảo tồn và giảm xung đột giữa người và động vật, và có thể cung cấp một nền tảng kiến thức để giúp đối phó với các mối đe dọa hủy hoại môi trường sống và các vấn đề khác.

F.               Tóm lại, xem xét nhiều mối đe dọa toàn cầu đang diễn ra đối với môi trường, tôi khó có thể coi sở thú là bất cứ điều gì khác ngoài sự thiết yếu đối với sự tồn tại lâu dài của nhiều chủng loài. Sở thú rất quan trọng không chỉ là bảo vệ động vật, mà còn là phương tiện để tìm hiểu về chúng để giúp đỡ những động vật còn sống trong tự nhiên, cũng như giáo dục và thông báo cho dân chúng về những động vật này và thế giới của chúng để mọi người có thể hỗ trợ hoặc ít nhất là chấp nhận sự cần thiết phải có ý thức môi trường hơn. Không có động vật, thế giới sẽ ngày càng trở thành một nơi nghèo nàn hơn nhiều.

 

 

-Theo Cambridge 14 /Test 4/ Passage 3-

 

Chelsea Rochman, một nhà sinh thái học tại Đại học California, Davis, đã cố gắng trả lời một câu hỏi ảm đạm: Có phải mọi thứ đều tồi tệ hay là mọi thứ chỉ là rất, rất xấu?

Rochman là thành viên của Trung tâm phân tích về Sinh Thái và làm việc trong nhóm Tổng Hợp Mảnh Vỡ Sinh Thái Biển, một nhóm các nhà khoa học nghiên cứu, trong số những thứ khác, vấn đề ngày càng tăng của các mảnh vỡ biển, còn được gọi là rác thải đại dương. Nhiều nghiên cứu đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng các mảnh vỡ biển; trong một bài báo gần đây được công bố trên tạp chí Ecology, Rochman và các đồng nghiệp của cô đã đưa ra để xác định có bao nhiêu trong số những rủi ro được nhận thức là có thật.

Thông thường, Rochman nói, các nhà khoa học sẽ kết thúc một bài nghiên cứu bằng cách suy đoán về những tác động rộng lớn hơn của những gì họ đã tìm thấy. Ví dụ, một nghiên cứu có thể chỉ ra rằng một số loài chim biển nhất định nào đó, ăn túi nhựa và tiếp tục cảnh báo rằng toàn bộ quần thể chim có nguy cơ bị chết. “Nhưng sự thật là chưa ai từng thử nghiệm những mối đe dọa được nhận thức đó”, Rochman nói. “Đã không có thật nhiều thông tin”.

Rochman và các đồng nghiệp của cô đã kiểm tra hơn một trăm bài báo về tác động của các mảnh vỡ biển được xuất bản đến năm 2013. Trong mỗi bài báo, họ đã hỏi về những mối đe dọa mà các nhà khoa học đã nghiên cứu -có tất cả 366 các mối đe dọa nhận thấy – và đó là những gì họ thực sự tìm thấy.

Trong 83% các trường hợp, những nguy hiểm nhận thấy của rác đại dương đã được chứng minh là đúng. Trong các trường hợp còn lại, nhóm làm việc nhận thấy các nghiên cứu có điểm yếu về thiết kế và nội dung ảnh hưởng đến hiệu lực của kết luận – ví dụ, họ thiếu nhóm kiểm soát hoặc sử dụng số liệu thống kê bị lỗi.

Đáng kinh ngạc, Rochman nói, chỉ có một nghiên cứu được thiết kế tốt nhưng lại không tìm thấy hiệu ứng mà nó đang tìm kiếm, một cuộc điều tra về con trai biển ăn những thứ siêu nhỏ. Các nhà khoa học đã tìm thấy nhựa chuyển từ dạ dày con trai đến dòng máu lưu thông trong cơ thể của chúng, và nhựa đã ở đó trong nhiều tuần – nhưng dường như không làm con trai căng thẳng.

Mặc dù con trai biển có thể vẫn ổn với việc ăn rác, tuy nhiên, phân tích cũng đưa ra một bức tranh rõ ràng hơn về các mảnh vỡ đại dương gây ra khó chịu theo nhiều cách.

Trong các nghiên cứu mà họ xem xét, hầu hết các mối đe dọa đã được chứng minh đến từ các mảnh vụn nhựa, thay vì các vật liệu khác như kim loại hoặc gỗ. Hầu hết các mối nguy hiểm cũng liên quan đến những mảnh vụn lớn – động vật bị vướng vào thùng rác, hoặc ăn nó và tự làm mình bị thương nặng.

Nhưng rất nhiều mảnh vỡ đại dương là ‘nhựa siêu nhỏ”, hoặc những mảnh có kích thước nhỏ hơn năm milimét. Đây có thể là các thành phần được sử dụng trong mỹ phẩm và đồ dùng vệ sinh, sợi bị bong ra bởi quần áo may bằng vải tổng hợp trong nước giặt hoặc tàn dư của các mảnh vụn lớn hơn. So với số lượng nghiên cứu điều tra các mảnh vỡ quy mô lớn, nhóm Rochman, đã tìm thấy rất ít nghiên cứu về tác động của những mảnh nhỏ này. Vẫn còn rất nhiều câu hỏi mở cho nhựa siêu nhỏ, mặc dù cô lưu ý rằng nhiều bài báo về chủ đề này đã được xuất bản từ năm 2013, điểm cắt cho phân tích của nhóm.

Ngoài ra, cô cũng cho biết thêm, rất nhiều câu hỏi mở về những cách mà các mảnh vỡ đại dương có thể dẫn đến cái chết của sinh vật biển. Nhiều nghiên cứu đã xem xét làm thế nào nhựa ảnh hưởng đến một động vật đơn lẻ, hoặc các mô hoặc tế bào của động vật, chứ không phải toàn bộ quần thể. Và trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học thường sử dụng nồng độ nhựa cao hơn so với những gì thực sự trên biển. Không ai trong số đó cho chúng ta biết có bao nhiêu con chim hay cá hay rùa biển có thể chết vì ô nhiễm nhựa – hoặc cái chết ở một loài có thể ảnh hưởng đến những kẻ săn mồi động vật đó, hoặc phần còn lại của hệ sinh thái.

“Chúng ta cần phải hỏi những câu hỏi liên quan đến sinh thái nhiều hơn”, Rochman nói. Thông thường, các nhà khoa học không biết chính xác những thảm họa như tàu chở dầu đã vô tình làm đổ toàn bộ hàng hóa dầu lỏng và gây ô nhiễm các khu vực rộng lớn của đại dương sẽ ảnh hưởng đến môi trường như thế nào cho đến khi chúng thực sự xảy ra. “Chúng ta không đặt câu hỏi đúng đủ sớm”, cô nói. Nhưng nếu các nhà sinh thái học có thể hiểu được tác động di chuyển chậm của rác đại dương đang gây hại cho hệ sinh thái như thế nào, thì họ có thể ngăn không cho mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.

Đặt câu hỏi đúng có thể giúp các nhà hoạch định chính sách và công chúng tìm ra nơi cần tập trung sự chú ý của họ. Các vấn đề trông hoặc nghe kịch tính nhất có thể không phải là nơi tốt nhất để bắt đầu. Ví dụ, tên của ‘Great Pacific Garbage Patch’, một bộ sưu tập các mảnh vụn biển ở phía bắc Thái Bình Dương – có thể gợi lên một hòn đảo rác rộng lớn trôi nổi. Trong thực tế, phần lớn các mảnh vỡ thì nhỏ bé hoặc nằm bên dưới bề mặt; một người có thể đi thuyền qua khu vực mà không nhận thấy bất kỳ rác thải nào. Một nhóm người Hà Lan có tên ‘Ocean Ocean Cleanup” hiện đang thực hiện kế hoạch đưa các thiết bị cơ khí vào Pacific Garbage Patch và các khu vực tương tự để hút nhựa. Nhưng một bài báo gần đây đã sử dụng mô phỏng để chỉ ra rằng chiến lược định vị các thiết bị dọn dẹp gần bờ sẽ giảm ô nhiễm hiệu quả hơn trong thời gian dài.

“Tôi nghĩ rằng việc làm sáng tỏ một số những hiểu lầm này là thực sự quan trọng”, Rochman nói. Giữa các nhà khoa học cũng như trên các phương tiện truyền thông, cô nói, ‘Rất nhiều hình ảnh về sự mắc kẹt và vướng víu và tất cả những điều đó gây ra nhận thức rằng các mảnh vụn nhựa đang giết chết mọi thứ trên đại dương.’ Việc thẩm vấn các tài liệu khoa học hiện có có thể giúp các nhà sinh thái học tìm ra vấn đề nào thực sự cần giải quyết, và vấn đề nào họ sẽ bỏ qua –  như những con trai ăn nhựa và vẫn không sao.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *